MQ-25A tiếp dầu cho F-35C. Ảnh: QQnews.
Dự án máy bay không người lái tiếp dầu MQ-25A “Stingray” của Hải quân Mỹ vốn bị trì hoãn nhiều năm – cuối cùng đã hoàn thành chuyến bay đầu tiên của nguyên mẫu thứ 3 vào ngày 25/4.
Là chiếc đầu tiên thuộc phiên bản sản xuất hàng loạt, việc cất cánh và thử nghiệm thành công của MQ-25A cũng đồng nghĩa Hải quân Mỹ đã chuyển từ giai đoạn thử nghiệm mặt đất sang thử nghiệm bay toàn diện máy bay này. Dự kiến đến năm 2029, MQ-25A có thể đạt năng lực tác chiến ban đầu.
Một trong ba chiếc nguyên mẫu F-35A. Ảnh: QQnews.
Gặp khó khăn và bị chậm do thay đổi nhiệm vụ
Trang tin quân sự Mỹ USNI News đưa tin, mẫu MQ-25A “Stingray” ban đầu dự kiến được triển khai trong năm 2026 trên tàu sân bay USS Theodore Roosevelt, nhưng do hàng loạt trì hoãn liên quan đến khả năng vận hành trên tàu sân bay cũng như quá trình sản xuất, tiến độ thử nghiệm và đánh giá tác chiến ban đầu đã bị lùi lại, kéo theo thời gian triển khai tổng thể cũng phải hoãn.
Mặc dù gặp khó khăn trong thời gian dài, nhưng Mỹ vẫn đi đầu trong lĩnh vực máy bay không người lái tiếp dầu hải quân. Là mẫu máy bay tiếp dầu cất hạ cánh trên tàu sân bay đầu tiên trên thế giới bước vào sản xuất hàng loạt, quá trình phát triển của MQ-25A “Stingray” rất trắc trở.
Dự án này bắt nguồn từ chương trình “Giám sát và tấn công trên không bằng UAV trên hạm” (Unmanned Carrier-Launched Airborne Surveillance and Strike, UCLASS) do Hải quân Mỹ đề xuất năm 2010. Đến năm 2016, dự án được điều chỉnh thành hệ thống tiếp dầu trên không bằng UAV, tức là chuyển từ nhiệm vụ trinh sát, giám sát và tấn công tầm xa sang nhiệm vụ tiếp dầu – một bước chuyển rất lớn.
UAV MQ-25A trong trạng thái gập cánh khi đỗ. Ảnh: QQnews.
Việc thay đổi yêu cầu nhiệm vụ đã kéo theo điều chỉnh tiến độ phát triển, nhất là trong bối cảnh năng lực công nghiệp hàng không Mỹ có dấu hiệu suy giảm sau nhiều năm tự bằng lòng. MQ-25A, một mẫu máy bay vốn dĩ không quá phức tạp về lý thuyết nhưng mất hơn 10 năm mới hoàn thành chuyến bay đầu tiên của phiên bản sản xuất hàng loạt.
Năm 2018, Hải quân Mỹ trao hợp đồng trị giá 805 triệu USD cho Boeing, với mục tiêu ban đầu là đạt năng lực tác chiến ban đầu vào năm 2024. Tuy nhiên tiến độ liên tục bị trì hoãn: kế hoạch dự kiến năm 2025 bay thử máy bay mẫu sản xuất hàng loạt và tích hợp lên tàu sân bay vào năm 2026 đều bị lùi. Hiện nay chiếc MQ-25A sản xuất hàng loạt đầu tiên mới bay, đồng nghĩa tiến độ tổng thể sẽ tiếp tục trễ, và dự kiến phải đến 2029 mới đạt năng lực tác chiến – chậm 3 năm so với kế hoạch ban đầu.
MQ-25A tiếp dầu cho F/A-18. Ảnh: QQnews.
Đáng chú ý, Boeing thực tế đã đưa nguyên mẫu lên bầu trời từ năm 2019, nên theo lý thuyết hoàn toàn có thể hoàn thành đúng hạn. Tuy nhiên, phiên bản sản xuất đã được nâng cấp đáng kể, đặc biệt là bổ sung pod quang điện/hồng ngoại có thể thu gọn – một cải tiến cốt lõi. Nhờ đó, vai trò của MQ-25A không còn chỉ là tiếp dầu đơn thuần mà trở thành nền tảng đa nhiệm, có thể tích hợp thu thập tình báo, giám sát, trinh sát và hệ thống nhận dạng tự động (AIS). Rõ ràng Hải quân Mỹ kỳ vọng nó không chỉ bù đắp điểm yếu tiếp dầu của phi đoàn trên tàu sân bay, mà còn đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ chiến đấu khác.
MQ-25A tiếp dầu cho máy bay cảnh báo sớm. Ảnh: QQnews.
Những tính năng cơ bản và kỳ vọng
Yêu cầu cao đồng nghĩa với gia tăng đáng kể tính năng. Hải quân Mỹ đặt ra chỉ tiêu: máy bay có thể cung cấp khoảng 6,8 tấn nhiên liệu cho 4–6 chiến đấu cơ, mục tiêu tối đa là 7,25 tấn ở khoảng cách 500 hải lý (khoảng 926 km) tính từ tàu sân bay. Vì vậy, yêu cầu về động cơ và kích thước thân máy bay cũng rất khắt khe. MQ-25A sử dụng một động cơ phản lực cánh quạt AE3007N, lực đẩy tối đa khoảng 4,5 tấn, trọng lượng cất cánh tối đa khoảng 20,2 tấn.
Kích thước của nó thậm chí còn lớn hơn tiêm kích tàng hình trên hạm F-35C: dài 15,5 m, sải cánh 22,9 m. Dù có thể gập cánh để đỗ trên tàu sân bay, nhưng MQ-25A vẫn chiếm diện tích boong nhiều hơn F-35C hoặc F/A-18. Kích thước lớn mang lại tải trọng và tầm bay tốt hơn. Khi sử dụng pod tiếp dầu giống F/A-18 “Super Hornet”, MQ-25A có thể thả ống tiếp dầu dài 15 m cho máy bay khác. Lưu lượng tiếp dầu đạt 830 lít/phút, có thể giúp tăng bán kính chiến đấu của F-35C từ hơn 1.100 km lên khoảng 1.800 km.
Ngoài ra, MQ-25A cũng có khả năng nhận tiếp dầu trên không, có thể được tiếp nhiên liệu từ F/A-18E/F hoặc các máy bay tiếp dầu cỡ lớn như KC-130/KC-135. Nhờ không có phi công, nó có thể bay treo lâu, về lý thuyết có thể duy trì vòng lặp tiếp dầu liên tục trên không. Đồng thời, thiết kế cửa hút khí trên lưng, vòi phun động cơ dẹt hai chiều và đuôi chữ V giúp nó có một mức độ tàng hình nhất định, đủ để đồng hành cùng F-35C trong nhiệm vụ tác chiến.
MQ-25A đậu trên tàu sân bay USS George H.W. Bush (CVN 77). Ảnh: USNavy.
Kỳ vọng của Hải quân Mỹ là dùng MQ-25A để thay thế nhiệm vụ tiếp dầu “bạn đồng hành” vốn do F/A-18 đảm nhiệm, qua đó có thể tăng 10–20% hỏa lực xuất kích của nhóm tác chiến tàu sân bay. Tuy nhiên, vấn đề lớn nhất là kích thước MQ-25A quá lớn: mỗi chiếc triển khai sẽ chiếm chỗ của một máy bay F-35C hoặc F/A-18. Sau khi tính toán, hiệu quả chiến đấu tổng thể có thể không tăng nhiều như kỳ vọng. Ví dụ, nếu một MQ-25A tiếp dầu cho 4 chiếc F-35C, mỗi chiếc chỉ nhận khoảng 1,7 tấn nhiên liệu – tương đương khoảng 20% lượng nhiên liệu tự mang – không đủ để hỗ trợ các nhiệm vụ tấn công tầm xa thực sự.
Yêu cầu của Hải quân Mỹ để MQ-25A đạt năng lực tác chiến ban đầu là phải có 3 chiếc MQ-25A, cùng đầy đủ cơ sở vận hành và nhân sự, được triển khai trên tàu sân bay có khả năng khai thác loại máy bay này. Hiện quân đội Mỹ dự kiến mua tổng cộng 76 chiếc MQ-25, bao gồm 4 máy bay phát triển kỹ thuật và 5 máy bay thử nghiệm hệ thống. Trong ngân sách năm tài khóa 2027, trước mắt sẽ mua 3 chiếc với tổng giá trị khoảng 771 triệu USD.
Theo QQnews, LTN
Thu Thủy