Số liệu vừa công bố của Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC) cho biết, tháng 2/2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của nước này đạt 508 tỷ USD, bao gồm xuất khẩu đạt 299,8 tỷ USD, nhập khẩu đạt 208 tỷ USD.
Lũy kế hai tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất nhập khẩu của Trung Quốc đạt 1.099 tỷ USD, tăng 21% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, giá trị xuất khẩu đạt 656 tỷ USD, tăng 21,8% YoY; nhập khẩu đạt 442 tỷ USD, tăng 19,8% YoY.
Về xuất khẩu, Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Trung Quốc với 67,2 tỷ USD, giảm 11% so với cùng kỳ năm trước.
Các thị trường đứng sau lần lượt là Hong Kong (Trung Quốc) với 59,6 tỷ USD, tăng 38,7% YoY; Nhật Bản đạt 26,1 tỷ USD, tăng 8,9% YoY; Hàn Quốc tăng 27% YoY, lên 26 tỷ USD.
Tại thị trường EU, Trung Quốc thu về 100,9 tỷ USD từ xuất khẩu sang khu vực này, tăng 27,8% so với cùng kỳ năm trước.
Trong đó, giá trị xuất khẩu sang Đức đạt 21,7 tỷ USD, tăng 31,3% YoY; Hà Lan tăng 17,9% YoY, lên 15,6 tỷ USD; Pháp đạt 8,5 tỷ USD, tăng 31,9% YoY; Italy tăng 36,4% YoY, đạt 9,8 tỷ USD.
Tại ASEAN, kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc sang thị trường này tăng 29,4% so với hai tháng đầu năm 2025, lên 112,6 tỷ USD. Trung Quốc thu về 18,8 tỷ USD từ xuất khẩu sang Thái Lan, tăng 35,6% YoY; Việt Nam với 31,2 tỷ USD, tăng 26,4% YoY.
Kim ngạch xuất khẩu sang Malaysia tăng 32,1% so với cùng kỳ, đạt 18,6 tỷ USD; Singapore với 13,5 tỷ USD, tăng 38,8% YoY; Indonesia đạt 14,6 tỷ USD, tăng 18,6% YoY; Philippines đạt 9,5 tỷ USD, tăng 22,9% YoY.
Các thị trường xuất khẩu ghi nhận tăng trưởng cao còn bao gồm Anh tăng 26,7% so với cùng kỳ, lên 14,8 tỷ USD; Ấn Độ tăng 20% YoY, đạt 25,1 tỷ USD; Nga tăng 22,7% YoY, đạt 18,2 tỷ USD.
Kim ngạch xuất khẩu sang Đài Loan (Trung Quốc) đạt 14,4 tỷ USD, tăng 28,7% so với cùng kỳ năm 2025; Australia đạt 13,3 tỷ USD, tăng 29,4% YoY; Canada tăng 19,9% YoY, ở mức 8,3 tỷ USD.
Trung Quốc xuất khẩu sang Nam Phi tăng tới 40,8% YoY, đạt 4,2 tỷ USD; sang Brazil tăng 24,2% YoY, đạt 12,8 tỷ USD; New Zealand tăng 25,9% YoY, đạt 1,4 tỷ USD.
Về nhập khẩu, Đài Loan (Trung Quốc) là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Trung Quốc với 38 tỷ USD, tăng 19,2% so với cùng kỳ. Kim ngạch nhập khẩu từ Hàn Quốc tăng 35,8% YoY, lên 35,3 tỷ USD; Nhật Bản tăng 26,5% YoY, đạt 26,3 tỷ USD; Australia tăng 33,8% YoY, ở mức 25,2 tỷ USD.
Trung Quốc đã chi 20,7 tỷ USD để nhập khẩu từ Nga, tăng 4,1% so với cùng kỳ; Brazil với 18,6 tỷ USD, tăng 35,4% YoY.
Kim ngạch nhập khẩu từ Hong Kong (Trung Quốc) tăng tới 332% so với cùng kỳ, lên 8,3 tỷ USD. Ngược lại, giá trị nhập khẩu từ Mỹ giảm 26,7% YoY, còn 19,4 tỷ USD.
Trong kỳ, Trung Quốc chi 41,2 tỷ USD để nhập khẩu từ EU, tăng 11,7% so với cùng kỳ. Kim ngạch nhập khẩu từ Pháp tăng 28,2% YoY, lên 6,1 tỷ USD; Italy tăng 10,6% YoY, đạt 3,9 tỷ USD; Đức tăng 4,9% YoY, lên 13,9 tỷ USD. Giá trị nhập khẩu từ Hà Lan lại giảm 5,1% YoY, còn 2,3 tỷ USD.
Lũy kế hai tháng đầu năm 2026, Trung Quốc nhập khẩu từ ASEAN với 63,9 tỷ USD, tăng 12,9% YoY. Trong đó, Trung Quốc giảm nhập khẩu từ Malaysia và Philippines với lần lượt 29,5% YoY và 18,4% YoY, đạt 11 tỷ USD và 2,1 tỷ USD.
Kim ngạch nhập khẩu từ Singapore lại tăng tới 53,5% so với cùng kỳ, lên 7,2 tỷ USD; Indonesia tăng 34,5% YoY, đạt 15,6 tỷ USD; Việt Nam tăng 30,1% YoY, đạt 16,7 tỷ USD; Thái Lan tăng 10,2% YoY, đạt 7,4 tỷ USD.
Lê Hồng Nhung