Năm Ngọ và câu chuyện ngựa chiến triều Nguyễn

Năm Ngọ và câu chuyện ngựa chiến triều Nguyễn
3 giờ trướcBài gốc
Đọc Đại Nam thực lục của triều Nguyễn cho thấy ngựa là một loại tài sản chiến lược, triều đình không để đàn ngựa hay thị trường ngựa phát triển tự nhiên, mà quản lý nó như một bộ phận của quân nhu quốc gia.
Nhập giống, tuyển giống và thị trường ngựa
Triều Nguyễn sớm nhận ra hạn chế của giống ngựa bản địa, thứ mà ngày nay quen gọi là “ngựa cỏ”. Khí hậu nhiệt đới nóng ẩm khiến ngựa Việt Nam nhỏ con, sức bền kém hơn ngựa phương Bắc. Vua Minh Mệnh vì vậy chủ trương nhập giống.
Nguồn: Fanpage Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế
Đại Nam thực lục chép việc triều đình ra lệnh cho Bắc Thành chọn mua ngựa tốt ở Vân Nam, Trung Quốc. Bắc Thành là đơn vị hành chính - quân sự cấp vùng của triều Nguyễn tồn tại đầu thế kỷ 19, quản lý toàn bộ miền Bắc Việt Nam. Vân Nam từ lâu nổi tiếng có giống ngựa cao lớn, chạy bền. Tuyên Quang từng mua được một con ngựa đực đen cao 3 thước (1 thước khi xưa chừng 0,4-0,47 mét) dâng về kinh, vua thưởng hơn 100 lạng bạc. Mức thưởng này cho thấy nhập giống là chính sách có đầu tư ngân khố, không phải mua bán tùy hứng.
Đại Nam thực lục là bộ sử biên niên chính thức của triều Nguyễn, ghi chép các sự kiện từ thời chúa Nguyễn đến hết triều Tự Đức, do Quốc Sử Quán biên soạn. Đây được xem là bộ quốc sử quan trọng bậc nhất của Việt Nam thời trung đại. Bản dịch hiện nay do Viện Sử học và Nhà xuất bản Giáo dục công bố thành 10 tập, là nguồn tư liệu nền cho nhiều nghiên cứu lịch sử.
Song song với nhập ngoại, triều đình tổ chức tuyển chọn giống trong nước. Các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Bình Hòa (tên cũ của Khánh Hòa ngày nay) được lệnh tìm mua ngựa trắng tốt đưa vào chuồng Thiên Nhàn. Thiên Nhàn là khu chuồng ngựa cung đình, nơi nuôi ngựa tuyển dùng cho cung đình và quân sự. Việc nhấn mạnh màu lông cho thấy yếu tố thẩm mỹ cung đình đi cùng yêu cầu chất lượng.
Ở Nam Kỳ, thị trường ngựa không hoàn toàn tự do. Các địa phương đặt thuế mua ngựa theo hạng, muốn mua phải trình tại trường sở, tức triều đình kiểm soát giao dịch. Cách làm này biến thị trường thành một nguồn dự trữ có thể huy động cho quân đội. Nói cách khác, triều đình vừa để mua bán ngựa tồn tại, vừa giữ quyền can thiệp khi cần.
Từ các câu chuyện trên trong tài liệu lịch sử, có thể thấy nhà Nguyễn theo đuổi chính sách giống ngựa kép: nhập giống cao cấp để cải thiện đàn và duy trì nguồn nội địa có chọn lọc, dưới sự giám sát tài chính và hành chính của trung ương.
Nuôi ngựa như quản lý tài sản công
Ngựa triều đình không nuôi tập trung tại một siêu trại duy nhất, mà theo mô hình phân tán. Trung tâm là viện Thượng tứ ở kinh đô Huế. Viện Thượng tứ là cơ quan chuyên quản ngựa cho cung đình, vừa nuôi vừa huấn luyện.
Bộ Binh, cơ quan trong lục bộ của triều đình, như Bộ Quốc phòng ngày nay, định ngạch 200 con ngựa chiến thường trực, giao cho hai Vệ Phi kỵ chăm sóc. Vệ Phi kỵ là đơn vị kỵ binh tinh nhuệ trực thuộc triều đình trung ương, quy mô gần tương đương một trung đoàn ngày nay. Nếu thiếu ngựa, các tỉnh phải tuyển bù. Ngoài số ngạch này còn hơn 100 con ngựa tuyển dùng cho luyện tập theo hầu vua, riêng kinh đô thường trực trên 300 con.
Nguồn: Fanpage Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế
Các tỉnh miền Trung như Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Trị, Quảng Bình được giao nuôi ngựa công theo định mức. Cứ 10 con thuê 4 người chăn. Người chăn được cấp tiền, gạo và miễn sai dịch mà dân phải làm cho triều đình. Đổi lại, nếu để ngựa gầy yếu thì bị phạt roi, chết vì nuôi sai phải bồi thường. Ngựa sinh sản nhiều được thưởng tiền, tất cả phải báo cáo định kỳ.
Cơ chế này mang tính định lượng rõ rệt: thưởng phạt gắn trực tiếp với số con sống, chết và sinh sản. Đó là cách quản trị tài sản công rất gần với quản lý kho quân nhu hiện đại.
Một chi tiết ít được biết là Côn Lôn, tức Côn Đảo ngày nay, từng là nơi nuôi ngựa công. Đại Nam thực lục ghi ngựa trên đảo sinh sản nhiều và vua sai chọn ngựa tốt đưa về kinh. Điều này cho thấy Côn Lôn đóng vai trò như cơ sở nhân giống. Đảo biệt lập, có quân trú phòng và tù phạm lưu đày khai khẩn, tạo thành mô hình kết hợp trại giam – nông trại – trại ngựa.
Bên cạnh ngựa chiến còn có ngựa trạm. Đây là ngựa dùng cho hệ thống bưu chính của triều đình. Các trạm từ phủ Thừa Thiên ra Bắc được cấp ngựa công riêng. Ngựa già yếu phải bán thay mới, trạm phu phải luyện cưỡi, chậm công văn bị xử nặng (trạm phu là người chuyên đưa công văn bằng ngựa). Hệ thống này cho thấy ngựa là hạ tầng giao thông hành chính, không chỉ phục vụ chiến tranh.
Khẩu phần ngựa cũng được chuẩn hóa. Ngựa ngự mã mỗi tháng được cấp gạo và đậu theo định lượng. Triều đình còn quy định rơm cỏ cho ngựa do binh lính tự lo, không được bắt dân cung ứng. Đây là nguyên tắc tách nghĩa vụ quân đội khỏi gánh nặng dân sinh.
Huấn luyện và vai trò quân sự
Theo sử sách, vua Minh Mệnh nhiều lần đích thân xem duyệt luyện tập kỵ binh. Bộ Binh nhấn mạnh ngựa phải “vừa nuôi vừa tập”, chỉ dùng những con đã dạy quen và khỏe mạnh. Điều này phản ánh tư duy coi huấn luyện là phần không tách rời của chăn nuôi.
Triều đình còn tuyển người cưỡi ngựa giỏi, biết bắn khi đang cưỡi. Đây là kỹ năng chuyên biệt. Không phải lính bộ binh nào cũng chuyển sang cưỡi ngựa được. Kỵ binh vì vậy hình thành như một binh chủng có tay nghề.
HÌnh ảnh xe ngựa khắc trên Cửu đỉnh ở Huế
Ngựa dư từ viện Thượng tứ được phân bổ cho các dinh Thần cơ, Tiền phong, Kỳ võ và các trạm quân sự. (Dinh là đơn vị quân đội quân số lớn thời Nguyễn). Kỵ binh triều Nguyễn không phải lực lượng chủ lực như quân Mông Cổ hay Mãn Thanh, vì địa hình Việt Nam nhiều sông ngòi và rừng núi. Nhưng ngựa vẫn giữ vai trò quan trọng: truyền tin nhanh, truy kích, cơ động chiến thuật và hộ giá.
Trong một số chiến dịch, khả năng “cưỡi ngựa đi trận” được xem là điều kiện để bảo đảm binh lương dồi dào và tiến quân nhanh. Tốc độ cơ động chính là lợi thế lớn nhất của ngựa trong bối cảnh chiến tranh tiền hiện đại.
Nguồn: Fanpage Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế
Tổng hợp các ngạch cho thấy lực lượng ngựa của triều đình có thể đạt 700 đến 1.000 con trong giai đoạn Minh Mạng, dù là thời bình. Với một quốc gia nông nghiệp nhiệt đới, đây là quy mô đáng kể. Quan trọng hơn, đằng sau con số là cả một hệ thống quản trị: nhập giống, nuôi theo định mức, kiểm kê, thưởng phạt, huấn luyện và phân bổ.
Ngựa trong triều Nguyễn vì vậy không chỉ là phương tiện cưỡi hay biểu tượng võ bị. Đó là một phần trong năng lực nhà nước thể hiện qua ngựa cho quân đội, cho binh trạm... Qua cách họ quản trị đàn ngựa, có thể thấy triều đình ít nhiều quan tâm, có chiến lược duy trì và phát triển đàn ngựa trong nước.
Hồng Văn
Nguồn Saigon Times : https://thesaigontimes.vn/nam-ngo-va-cau-chuyen-ngua-chien-trieu-nguyen/