“Thổi hồn” vào thanh tre, gỗ mớc
Từ thuở nhỏ, Pả Hơi đã bị mê hoặc bởi những thanh âm trầm bổng của khèn bè và nhịp rộn ràng của đàn Ta lư. Ngày ấy, trong các dịp mừng lúa mới hay lễ hội bản làng, nhìn các nghệ nhân lớn tuổi thổi khèn, đánh đàn, nỗi khát khao trong ông lại dâng trào mạnh mẽ. Tuy nhiên, đây là hai loại nhạc cụ rất khó chế tác, đòi hỏi người làm phải có sự tỉ mỉ, kiên trì, đôi bàn tay khéo léo và đặc biệt là khả năng cảm nhận âm thanh tinh tế.
Cơ duyên đến khi ông còn là một thanh niên. Trong những chuyến sang nước bạn Lào thăm người thân, thấy đồng bào Vân Kiều bên đó vẫn giữ được nghề chế tác nhạc cụ, ông đã tự bỏ tiền mua về để nghiên cứu. Pả Hơi tháo rời từng bộ phận, tỉ mẩn tìm hiểu cấu trúc của lưỡi gà, cách bố trí ống tre và các phím đàn. “Sau nhiều năm tự tìm tòi, học hỏi và trải qua không ít lần thất bại, cuối cùng tôi cũng đã chế tác thành công những chiếc khèn, cây đàn đầu tiên đạt chuẩn về cả hình thức lẫn âm thanh”, Pả Hơi chia sẻ.
Nghệ nhân Pả Hơi say sưa gửi gắm tâm tình qua nhịp đàn Ta lư - Ảnh: K.S
Để làm ra một cây đàn Ta lư hay chiếc khèn bè đúng nghĩa, người làm phải bỏ ra rất nhiều công sức. Vật liệu làm khèn phải là loại tre, nứa già lấy từ rừng sâu, được phơi nắng và hơ qua lửa để nắn cho thật thẳng. Đối với đàn Ta lư, Pả Hơi thường chọn gỗ mớc hoặc gỗ mít làm nguyên liệu chính. Gỗ sau khi đốn hạ được phơi khô từ một đến hai tháng để bảo đảm độ bền và không bị nứt. Cấu trúc đàn nhìn qua gần giống đàn măng-đô-lin nhưng phần bầu đàn nhỏ hơn, cần đàn dài và có từ 2-4 dây. Dây đàn truyền thống thường dùng là dây tơroa hoặc dây thép bền, càng sử dụng lâu càng săn chắc, cho âm thanh rộn rã, vui tươi.
Nói về kinh nghiệm chọn gỗ, Pả Hơi chia sẻ: “Làm đàn Ta lư không được vội. Khâu chọn gỗ là quan trọng nhất, phải là gỗ mớc hoặc mít già thì tiếng mới ấm và không bị mối mọt. Khi đục đẽo thùng đàn, đôi tay mình phải cảm nhận được độ dày mỏng của thành gỗ; mỏng quá thì đàn dễ nứt, dày quá thì tiếng lại bí, không vang xa được qua ngọn núi, con suối đâu”.
Riêng với khèn bè, sự tỉ mỉ càng tăng lên gấp bội. Khèn bè của người Vân Kiều, Pa Kô thường có cấu trúc gồm 14 ống tre gắn kết lại. Công đoạn khó nhất là chế tác lưỡi gà-bộ phận tạo âm thanh. Từng chiếc lưỡi gà được ông kỳ công tạo tác từ bạc cũ hoặc đồng chất lượng cao, dát mỏng đến mức tối đa để tiếng khèn khi thổi ra đạt độ réo rắt, bay bổng.
"Cái “linh hồn” của chiếc khèn nằm ở lưỡi gà. Tôi phải dùng bạc cũ hoặc đồng thật nguyên chất, dát mỏng như lá lúa. Lúc mài phải cực kỳ khéo léo, chỉ cần quá tay một chút là tiếng khèn sẽ bị phô ngay. Khi lắp vào ống tre, mình còn phải dùng sáp ong rừng để gắn kết cho kín, có như vậy âm thanh mới hội tụ được cái hồn của núi rừng Trường Sơn”, Pả Hơi cho biết thêm.
Trăn trở và khát vọng trao truyền
Trong căn nhà của Pả Hơi lúc nào cũng trưng bày hàng chục sản phẩm do ông tự tay làm ra. Không chỉ để bảo tồn, ông còn bán cho những người có nhu cầu với giá từ 1,5-1,7 triệu đồng/sản phẩm để có thêm thu nhập trang trải cuộc sống và duy trì nghề. Tuy nhiên, điều khiến ông đau đáu nhất vẫn là việc tìm người kế cận.
Chia sẻ về nỗi lòng của mình, Pả Hơi tâm sự: “Với tôi, khèn bè và đàn Ta lư không chỉ là nhạc cụ, mà là linh hồn, là tiếng lòng của cha ông để lại. Nếu lớp già này mai một mà không có người nối tiếp, những thanh âm này sẽ bị lãng quên theo thời gian. Tôi luôn sẵn sàng truyền dạy cho bất cứ ai, nhất là những người trẻ có tâm huyết. Chỉ mong thế hệ sau hiểu được giá trị của văn hóa dân tộc mình, biết cầm cây đàn, thổi tiếng khèn để bản sắc người Vân Kiều mãi trường tồn”.
Nghệ nhân Pả Hơi (bên phải) truyền dạy cách sử dụng khèn bè cho thế hệ trẻ - Ảnh: K.S
Anh Hồ Văn Hoan, Trưởng thôn Ka Tăng, một người trẻ đầy năng động tại địa phương, bày tỏ: “Pả Hơi là một nghệ nhân hiếm có ở vùng biên này. Sự kiên trì và tài hoa của ông đã truyền cảm hứng rất lớn cho thanh niên trong thôn. Giữa lúc nhiều bạn trẻ mải mê với các loại nhạc hiện đại, hình ảnh Pả Hơi tỉ mỉ bên cây đàn Ta lư nhắc nhở chúng tôi về trách nhiệm gìn giữ cội nguồn. Chúng tôi đang tích cực vận động đoàn viên, thanh niên tham gia các buổi sinh hoạt văn nghệ để được ông trực tiếp hướng dẫn cách sử dụng nhạc cụ truyền thống”.
Lan tỏa sức sống di sản nơi biên cương
Không chỉ bó hẹp trong không gian sáng tạo tại bản làng, những năm qua, nghệ nhân Hồ Văn Vát đã tích cực tham gia biểu diễn và truyền dạy trong các chương trình, dự án nghiên cứu, phục hồi, bảo tồn và phát huy các nhạc cụ truyền thống của người Vân Kiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số phía Tây Nam Quảng Trị. Sự có mặt của ông trong các dự án này đã góp phần quan trọng vào việc hệ thống hóa và làm sống lại những giá trị văn hóa đang có nguy cơ mai một.
Với trái tim nặng lòng cùng di sản, nghệ nhân Hồ Văn Vát đã dành trọn tâm huyết nghiên cứu, chế tác thành công khèn bè và đàn Ta lư truyền thống. Không chỉ tài hoa trong kỹ nghệ, ông còn là cầu nối quan trọng, tích cực truyền dạy và lan tỏa tình yêu văn hóa Vân Kiều cho thế hệ trẻ nơi vùng biên viễn tỉnh Quảng Trị.
Phó Chủ tịch UBND xã Lao Bảo Nguyễn Thị Thanh Nga cho biết: “UBND xã luôn xác định việc bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc, trong đó có khèn bè và đàn Ta lư, là nhiệm vụ trọng tâm. Những nghệ nhân như Pả Hơi chính là những “kho tàng sống” quý giá của địa phương. Thời gian tới, chúng tôi sẽ tiếp tục phối hợp mở các lớp truyền dạy, tạo không gian biểu diễn thường xuyên trong các lễ hội để tôn vinh và phát huy giá trị văn hóa truyền thống. Đồng thời, xã sẽ có những hình thức biểu dương, hỗ trợ kịp thời cho các nghệ nhân tâm huyết để họ yên tâm gắn bó và trao truyền nghề cho thế hệ mai sau”.
Tiếng đàn Ta lư, tiếng khèn bè của Pả Hơi vẫn đều đặn vang lên giữa bản làng Ka Tăng. Những âm thanh ấy như một nhịp cầu nối liền quá khứ và hiện tại, khẳng định sức sống bền bỉ của văn hóa dân tộc Vân Kiều nơi biên thùy. Khi còn những con người đau đáu gìn giữ di sản như ông, bản sắc núi rừng vẫn sẽ ngân vang và bền bỉ cùng năm tháng.
Kô Kăn Sương