Nâng tầm chuyển đổi số tại Tổng công ty Lọc hóa dầu Việt Nam: Hướng tới mô hình doanh nghiệp số toàn diện

Nâng tầm chuyển đổi số tại Tổng công ty Lọc hóa dầu Việt Nam: Hướng tới mô hình doanh nghiệp số toàn diện
một giờ trướcBài gốc
Trong chiến lược phát triển mới ấy, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực trung tâm nhằm xây dựng mô hình quản trị hiện đại, vận hành thông minh, mở rộng thị trường và đa dạng hóa sản phẩm.
Chuyển đổi số – động lực chiến lược của giai đoạn phát triển mới
Tổng Giám đốc BSR Nguyễn Việt Thắng giới thiệu về Trung tâm Điều hành tích hợp NMLD Dung Quất tới đoàn công tác của Bộ Công Thương (cuối tháng 3/2026)
Nếu trước đây, chuyển đổi số tại BSR chủ yếu tập trung vào tối ưu hóa vận hành Nhà máy Lọc dầu Dung Quất thông qua các giải pháp công nghệ chuyên sâu, thì trong giai đoạn phát triển mới, mục tiêu đã được nâng lên thành xây dựng mô hình “Digital Enterprise” – doanh nghiệp số toàn diện.
Thực tế, nền tảng cho bước chuyển này đã được hình thành thông qua hàng loạt dự án cụ thể đã triển khai, bao gồm:
Hoàn thiện các hệ thống nền tảng doanh nghiệp gồm ERP SAP S/4HANA, HRM, hóa đơn điện tử, hệ thống xuất bán – giao nhận sản phẩm tích hợp số hóa toàn bộ quy trình kinh doanh.
Hoàn thiện hệ sinh thái Văn phòng điện tử, hoàn thành số hóa 100% các nghiệp vụ quản trị điều hành trên nền tảng di động. Các cấp lãnh đạo, quản trị điều hành có thể làm việc mọi lúc, mọi nơi, tăng cường hiệu suất làm việc cá nhân, làm việc nhóm và truyền thông nội bộ doanh nghiệp, thống nhất ứng dụng để trao đổi công việc trong công ty.
Triển khai số hóa toàn bộ công tác lập kế hoạch của công ty bao gồm kế hoạch mua sắm hàng năm, kế hoạch nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, kế hoạch hoạt động sản xuất kinh doanh.... theo lộ trình và chiến lược chuyển đổi số toàn bộ mọi nghiệp vụ tại BSR.
Những kết quả này không chỉ mang tính công nghệ mà còn tạo ra các lợi ích thực tiễn rõ rệt như nâng cao khả năng quản trị điều hành, rút ngắn thời gian ra quyết định và tăng cường tính minh bạch trong quản trị.
Theo đó, chuyển đổi số không còn là một lựa chọn mang tính xu hướng, mà trở thành nền tảng chiến lược để kiến tạo hệ sinh thái lọc – hóa dầu hiện đại, thông minh và bền vững.
Mô hình doanh nghiệp số mà Tổng công ty hướng tới được xây dựng trên 4 trụ cột chính gồm:
Kết nối xuyên suốt từ sản xuất, bảo dưỡng, thương mại đến tài chính và quản trị thông qua các nền tảng ERP và dữ liệu hợp nhất;
Đồng bộ dữ liệu thời gian thực trên toàn hệ sinh thái, tiêu biểu qua hệ thống PI Vision và nền tảng dữ liệu tập trung;
Ra quyết định dựa trên dữ liệu và trí tuệ nhân tạo (AI) với các ứng dụng PdM, APM, Digital Twin đang triển khai;
Thúc đẩy tự động hóa và vận hành thông minh thông qua số hóa quy trình kinh doanh và vận hành sản xuất.
Đây được xem là nền tảng để từng bước hình thành “Smart Refinery Ecosystem” – hệ sinh thái lọc hóa dầu thông minh mang tầm khu vực, trong đó dữ liệu trở thành tài sản chiến lược, AI là công cụ cốt lõi, và quản trị thông minh là đích đến.
Hướng tới nhà máy lọc dầu thông minh
BSR áp dụng nhiều giải pháp công nghệ vào sản xuất, vận hành Nhà máy
Một trong những trọng tâm lớn của Tổng công ty Lọc hóa dầu Việt Nam là phát triển mô hình “Smart Refinery” – nhà máy lọc dầu thông minh dựa trên dữ liệu thời gian thực và AI.
Thực tiễn triển khai tại BSR cho thấy nhiều nền tảng công nghệ cốt lõi cho mô hình này đã và đang được hình thành, đặc biệt là:
Hệ thống giám sát vận hành thời gian thực trên nền tảng PI Vision, cho phép theo dõi toàn bộ trạng thái thiết bị và công nghệ của Nhà máy theo thời gian thực, đồng thời triển khai các mô hình CBM, EWS nhằm cảnh báo sớm và hỗ trợ bảo trì theo tình trạng.
Các bước triển khai ban đầu của bảo trì dự báo (Predictive Maintenance) và APM nhằm dự báo hư hỏng thiết bị quan trọng, giảm thiểu rủi ro dừng máy ngoài kế hoạch.
Các bước chuẩn bị triển khai giải pháp mô phỏng đánh giá, dự báo tình trạng ăn mòn, giải pháp kiểm soát ăn mòn theo thời gian thực cho hệ thống đỉnh của phân xưởng CDU, RFCC và Triển khai giải pháp Digital Twin (bản sao số) để tối ưu lợi nhuận cho phân xưởng công nghệ RFCC.
Trên nền tảng đó, nhiều công nghệ hiện đại đang được định hướng triển khai đồng bộ như APC/RTO toàn nhà máy, AI tối ưu năng lượng và cơ cấu dầu thô, kiểm tra bằng drone và robot, Digital Twin cho các phân xưởng trọng yếu (RFCC, CCR, NHT) hay Trung tâm điều hành tích hợp (IOC). Trong đó, định hướng xây dựng Digital Twin và Trung tâm vận hành số hợp nhất đã được xác định là các bước đi chiến lược trong lộ trình phát triển Nhà máy thông minh của BSR.
Đồng thời, các hệ thống doanh nghiệp đã triển khai như ERP SAP S/4HANA, hệ thống quản lý bảo dưỡng sửa chữa, hệ thống xuất bán và giao nhận sản phẩm, nền tảng báo cáo thông minh cũng đang được tích hợp và số hóa toàn bộ chuỗi giá trị từ sản xuất đến kinh doanh, tạo nền tảng cho việc tối ưu hóa vận hành ở cấp độ toàn Nhà máy.
Mục tiêu của quá trình này là tối ưu hiệu quả sản xuất kinh doanh, giảm thời gian dừng máy, nâng cao độ tin cậy vận hành và từng bước tiến tới mô hình vận hành tự động (Autonomous Operation).
Dữ liệu trở thành tài sản chiến lược
Trong kỷ nguyên số, dữ liệu đang được xem là tài sản có giá trị tương đương tài sản vật lý. Vì vậy, Tổng công ty xác định việc xây dựng nền tảng dữ liệu thống nhất là nhiệm vụ then chốt. BSR đang chuyển dịch từ trạng thái phân tán dữ liệu sang bước đầu hình thành ‘Single Source of Truth’ cho toàn doanh nghiệp
Thực tế, BSR đã từng bước hình thành nền tảng này thông qua các dự án cụ thể như:
Triển khai hệ thống tích hợp và hợp nhất dữ liệu OT–IT–Enterprise trên nền tảng AVEVA PI và Microsoft Fabric, qua đó tập trung toàn bộ dữ liệu vận hành, kỹ thuật, tài chính, nhân sự về một hệ thống thống nhất.
Chuẩn hóa cấu trúc dữ liệu tài sản (Asset Hierarchy) trên PI AF, thiết lập mô hình cây thiết bị – hệ thống – tín hiệu (tag) làm nền tảng cho các ứng dụng phân tích và tối ưu hóa vận hành.
Xây dựng các hệ thống báo cáo quản trị, điều hành thông minh trên nền tảng Power BI, cho phép tổng hợp và trực quan hóa dữ liệu đa chiều phục vụ quản trị doanh nghiệp.
Tích hợp dữ liệu từ các hệ thống cốt lõi như ERP SAP S/4HANA, hệ thống quản lý bảo dưỡng, hệ thống sản xuất, thương mại – xuất bán, tạo nền tảng dữ liệu liên thông toàn chuỗi giá trị.
Các định hướng trọng tâm tiếp tục được đẩy mạnh gồm xây dựng Data Platform đồng bộ; chuẩn hóa dữ liệu kỹ thuật, thương mại và tài chính; hoàn thiện hệ thống quản trị dữ liệu (Data Governance); tích hợp sâu hơn các hệ thống ERP – MES – DCS – CMMS – LIMS; đồng thời phát triển năng lực phân tích dữ liệu chuyên sâu và ứng dụng AI/ML.
Khi dữ liệu được liên thông và chuẩn hóa, nhiều bài toán thực tiễn đã được cải thiện rõ rệt, như khả năng giám sát thiết bị theo thời gian thực, cảnh báo sớm rủi ro vận hành, cũng như cung cấp cơ sở dữ liệu đầy đủ phục vụ phân tích hiệu quả sản xuất và bảo dưỡng. Trên nền tảng đó, lãnh đạo doanh nghiệp có thể từng bước theo dõi tức thời các chỉ số quan trọng như hiệu suất vận hành, tình trạng thiết bị, độ tin cậy vận hành, hiệu suất năng lượng, cường độ phát thải carbon, biên lợi nhuận, hay hiệu quả chuỗi cung ứng cũng như các chỉ tiêu quản trị khác để đưa ra quyết định nhanh chóng và chính xác hơn.
AI sẽ trở thành “trợ lý vận hành”
Theo định hướng phát triển mới, AI sẽ đóng vai trò như “trợ lý vận hành” ở mọi cấp độ, từ nhà máy đến khối quản trị doanh nghiệp.
Trên cơ sở xây dựng dữ liệu thành tài sản chiến lược, nhiều ứng dụng AI đang được nghiên cứu và từng bước triển khai như dự báo sự cố thiết bị, tối ưu sản xuất, tối ưu năng lượng, dự báo ăn mòn, dự báo thị trường, tối ưu hoạt động trading và supply chain cũng như các bài toán nâng cao liên quan đến Digital Twin và APM cho các phân xưởng trọng yếu. Đồng thời, việc xây dựng Trung tâm vận hành số hợp nhất (Unified Digital Operation Center) cũng được định hướng nhằm tích hợp các công cụ phân tích, cảnh báo và hỗ trợ ra quyết định dựa trên AI.
Song song với đó, BSR đã và đang đẩy mạnh AI hỗ trợ tự động hóa và số hóa các nghiệp vụ quản trị và vận hành như:
Số hóa quy trình sản xuất – kinh doanh, giao nhận sản phẩm, cho phép khách hàng đăng ký, theo dõi và xác nhận giao dịch trực tuyến trên nền tảng số.
Triển khai các hệ thống báo cáo thông minh, góp phần hỗ trợ lãnh đạo trong công tác điều hành và ra quyết định dựa trên dữ liệu.
Triển khai Camera AI trong giám sát an ninh, giúp phát hiện sớm các bất thường, giảm phụ thuộc vào con người và nâng cao tiêu chuẩn an toàn vận hành
Trong giai đoạn tới, các công nghệ như RPA cho nghiệp vụ văn phòng, Computer Vision phục vụ an toàn và các hệ thống cảnh báo thông minh sẽ tiếp tục được mở rộng và tích hợp sâu vào hoạt động của doanh nghiệp, từng bước hình thành “trợ lý vận hành số” thực thụ.
Chuyển đổi số gắn với phát triển xanh
Chuyển đổi số không chỉ là nhu cầu tự thân mà còn là yêu cầu bắt buộc của các doanh nghiệp muốn tăng trưởng mạnh mẽ
Trong xu thế chuyển dịch năng lượng toàn cầu, chuyển đổi số không chỉ nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất mà còn là công cụ quan trọng để thúc đẩy phát triển bền vững. BSR đang từng bước chuyển dịch từ ‘Refinery truyền thống’ sang ‘Low-carbon Smart Refinery’, trong đó dữ liệu và công nghệ số là đòn bẩy cốt lõi.
Thực tế, tại BSR, các nền tảng số phục vụ mục tiêu này đã từng bước được xây dựng, tiêu biểu như:
Hệ thống giám sát vận hành và công nghệ theo thời gian thực trên PI Vision, cho phép theo dõi liên tục các thông số năng lượng, môi trường và vận hành, tạo cơ sở cho việc tối ưu tiêu hao nhiên liệu và giảm phát thải.
Xây dựng các báo cáo quản trị thông minh về môi trường, chất lượng và vận hành trên nền tảng dữ liệu tập trung, hỗ trợ theo dõi các chỉ số liên quan đến phát thải và hiệu suất sử dụng năng lượng.
Triển khai các giải pháp phân tích nâng cao và định hướng ứng dụng AI/ML nhằm tối ưu vận hành, năng lượng và dự báo các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất và môi trường.
Trên cơ sở đó, Tổng công ty đang tiếp tục định hướng ứng dụng công nghệ số trong các bài toán trọng tâm như theo dõi phát thải CO₂ theo thời gian thực, tối ưu hệ thống hydrogen và fuel gas, quản lý năng lượng thông minh, giảm flare, cũng như từng bước xây dựng nền tảng ESG số hóa. Các định hướng này được hỗ trợ trực tiếp bởi nền tảng dữ liệu hợp nhất và khả năng phân tích nâng cao đã được triển khai trong thời gian qua.
Đây được xem là lợi thế cạnh tranh quan trọng, giúp BSR không chỉ nâng cao hiệu quả sản xuất mà còn đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng cao về môi trường và phát triển bền vững, qua đó từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị năng lượng toàn cầu trong tương lai.
Chuyển đổi số vì vậy không chỉ là nhu cầu tự thân mà còn là yêu cầu tất yếu đối với các doanh nghiệp muốn tăng trưởng mạnh mẽ, thích ứng với xu thế năng lượng xanh và phát triển bền vững trong dài hạn.
Con người là trung tâm của chuyển đổi số
Theo các chuyên gia, công nghệ chỉ phát huy giá trị khi đi cùng con người. Vì vậy, cùng với đầu tư công nghệ, Tổng công ty Lọc hóa dầu Việt Nam xác định phát triển nguồn nhân lực số là nhiệm vụ chiến lược dài hạn. BSR không chỉ triển khai chuyển đổi số về công nghệ, mà đang chuyển đổi chính con người – từ đội ngũ vận hành truyền thống sang lực lượng lao động số (digital workforce).
Thực tế tại BSR, quá trình này đã được triển khai song hành với các dự án công nghệ, thông qua việc huy động sự tham gia trực tiếp của các đơn vị sản xuất, bảo dưỡng và kinh doanh trong các chương trình chuyển đổi số, tiêu biểu như:
Thành lập các nhóm liên ban gồm CNTT&CĐS, Khối Nhà máy, Khối Nghiệp vụ cùng tham gia nghiên cứu, đánh giá và triển khai các dự án chuyển đổi số trọng điểm qua đó nâng cao năng lực số và khả năng phối hợp liên phòng ban trong môi trường số hóa.
Thường xuyên tổ chức các hoạt động học tập, trao đổi kinh nghiệm với các đơn vị trong và ngoài ngành, các đối tác công nghệ trong và ngoài nước.
Triển khai các hệ thống số xuyên suốt doanh nghiệp như ERP SAP S/4HANA, hệ thống quản lý bảo dưỡng, vận hành số, hệ thống xuất bán – giao nhận sản phẩm, qua đó yêu cầu đội ngũ cán bộ, kỹ sư làm chủ quy trình số và nâng cao kỹ năng sử dụng hệ thống trong công việc hàng ngày.
Song song với đó, trong quá trình xây dựng mô hình Nhà máy thông minh, các kỹ sư vận hành và bảo dưỡng đã trực tiếp tham gia vào việc chuẩn hóa dữ liệu thiết bị, xây dựng cấu trúc Asset Hierarchy, khai thác hệ thống PI Vision và các công cụ phân tích dữ liệu để phục vụ vận hành và ra quyết định. Đây chính là quá trình “học qua làm” (learning by doing), góp phần hình thành năng lực dữ liệu và tư duy số trong nội bộ doanh nghiệp.
Trong thời gian qua, BSR cũng đã đẩy mạnh việc tiếp cận các công nghệ phân tích nâng cao và AI thông qua các bài toán cụ thể như giám sát thiết bị, cảnh báo sớm, tối ưu vận hành… tạo cơ hội để đội ngũ kỹ sư làm quen và từng bước phát triển năng lực phân tích dữ liệu, AI/ML trong thực tiễn. Triển khai chương trình đào tạo AI thực chiến cho Lãnh đạo công ty và chương trình đào tạo AI cho toàn thể CBCNV BSR.
Qua các hoạt động này, doanh nghiệp sẽ từng bước xây dựng văn hóa dữ liệu, phát triển đội ngũ kỹ sư số, chuyên gia AI và phân tích dữ liệu, nâng cao năng lực lãnh đạo số và thúc đẩy mô hình phối hợp liên ngành giữa công nghệ, sản xuất và kinh doanh.
Trong tương lai, người kỹ sư lọc dầu không chỉ cần hiểu công nghệ chế biến mà còn phải làm chủ dữ liệu, AI và các mô hình vận hành số hiện đại.
Khát vọng xây dựng tổ hợp lọc hóa dầu thông minh mang tầm khu vực
Sản phẩm lưu huỳnh hạt của NMLD Dung Quất
Từ vùng đất ven biển miền Trung từng còn nhiều khó khăn, Dung Quất hôm nay đang đứng trước cơ hội trở thành trung tâm công nghiệp năng lượng thông minh của Việt Nam.
Mục tiêu của Tổng công ty không chỉ dừng lại ở việc vận hành hiệu quả một nhà máy lọc dầu, mà hướng tới xây dựng tổ hợp lọc – hóa dầu thông minh, tích hợp, tự tối ưu và có khả năng cạnh tranh quốc tế.
Trong tầm nhìn đó, Dung Quất được kỳ vọng sẽ trở thành Smart Refinery đầu tiên của Việt Nam, trung tâm dữ liệu công nghiệp năng lượng và hạt nhân đổi mới sáng tạo của ngành lọc – hóa dầu quốc gia.
Chuyển đổi số vì thế không đơn thuần là ứng dụng công nghệ, mà chính là hành trình tái định nghĩa mô hình tăng trưởng, năng lực cạnh tranh và vị thế của Tổng công ty Lọc hóa dầu Việt Nam trong kỷ nguyên công nghiệp mới.
Nguyễn Việt Thắng - Tổng Giám đốc BSR
Nguồn VHPT : https://vanhoavaphattrien.vn/nang-tam-chuyen-doi-so-tai-tong-cong-ty-loc-hoa-dau-viet-nam-huong-toi-mo-hinh-doanh-nghiep-so-toan-dien-a33281.html