Vùng đất linh thiêng này lưu giữ nhiều di sản vật thể và phi vật thể được Nhà nước công nhận. Đặc biệt, người dân Hát Môn vẫn lưu giữ những nếp xưa, tục cũ như một nét văn hóa độc đáo của địa phương.
Nghi thức rước bánh trôi tại đền Hát Môn (xã Hát Môn). Ảnh: Mai Nguyễn
Những phong tục đẹp ở Hát Môn
Chúng tôi về Hát Môn đúng dịp làng tổ chức lễ hội truyền thống. Trưởng Tiểu ban Quản lý di tích đền Hát Môn Nguyễn Hoàng Tú cho biết: “Mỗi năm, đền Hát Môn tổ chức ba kỳ lễ lớn, gồm Lễ giỗ Hai Bà Trưng (vào mùng 6 tháng Ba âm lịch); lễ kỷ niệm ngày Hai Bà Trưng tế cờ khởi nghĩa (vào mùng 4 tháng Chín âm lịch); lễ mộc dục (diễn ra đêm 23, rạng sáng 24 tháng Chạp) - nghi thức tắm và thay y phục cho Hai Bà Trưng, tưởng nhớ ngày Hai Bà Trưng xưng vương. Trong đó, lễ rước bánh trôi dâng Hai Bà Trưng vào dịp giỗ được xem là nghi lễ đặc sắc và mang đậm dấu ấn riêng của vùng đất Hát Môn”.
Tục truyền rằng, trước khi hóa, Hai Bà Trưng nghỉ chân ở hàng nước, được bà chủ quán dâng mời bánh trôi và hai quả muỗm. Chính sự tích ấy đã khiến bánh trôi trở thành lễ vật thiêng liêng, mang ý nghĩa tưởng nhớ và tri ân công lao to lớn của Hai Bà Trưng với dân tộc.
Trải qua hàng nghìn năm, phong tục này vẫn được bảo tồn gần như nguyên vẹn, trở thành nét văn hóa đặc sắc, hiếm nơi nào có được. Những ngày trước lễ chính, không khí chuẩn bị đã lan tỏa khắp làng Hát Môn. Công tác chuẩn bị cho lễ hội được tiến hành từ rất sớm với sự tham gia của đông đảo người dân trong làng.
Theo phong tục, các nghi thức cúng tế không được thực hiện trực tiếp tại đền mà diễn ra tại hai gia đình được lựa chọn kỹ lưỡng, gọi là “nhà chứa lễ” và “nhà chứa văn”. Những gia đình này phải đáp ứng các tiêu chí nghiêm ngặt như: Vợ chồng song toàn, gia phong nền nếp, con cái hiếu thảo, không có tang sự trong năm và được cộng đồng tín nhiệm.
Tại gia đình ông Trần Nho Giáp - năm nay vinh dự được chọn là “nhà chứa văn”, mọi công việc được tiến hành cẩn trọng và trang nghiêm. Mùi hương trầm lan tỏa khắp không gian, tạo nên cảm giác linh thiêng và ấm cúng.
Ông Trần Nho Giáp cho biết: “Sau lễ mở cửa đền, chủ tế sẽ làm lễ xin phép Hai Bà Trưng rước quan giám trai về hai gia đình được chọn để giám sát việc chuẩn bị nghi lễ. Bàn thờ gia tiên được di chuyển sang vị trí khác, nhường gian chính giữa để đón “các quan” về ngự. Đây là nghi thức thể hiện sự tôn kính tuyệt đối của người dân đối với các bậc tiền nhân”.
Việc làm bánh trôi dâng Hai Bà Trưng cũng được thực hiện theo quy trình truyền thống nghiêm ngặt. Gạo được chọn làm bánh là gạo nếp cái hoa vàng, giã trong cối đá lớn. Gạo giã đến khi thành bột thì rây lấy bột tơi, mịn. Bột được luyện thật kỹ, đến khi thật mềm, mịn, dẻo thì đưa ra mâm để nặn thành bánh… Các công đoạn đều rất cầu kỳ, công phu. Dù ngày nay có nhiều loại máy móc hiện đại để hỗ trợ cho việc xay, trộn bột..., song người dân nơi đây vẫn giữ nguyên phương thức thủ công như cha ông để lại.
Mỗi mùa lễ hội có gần 1.000 người tham gia, đến từ 10 thôn trong làng. Ngoài bánh trôi, các lễ vật khác như: Xôi, oản, gà trống, thủ lợn cùng hương hoa cũng được chuẩn bị chu đáo. Sự tham gia đông đảo của cộng đồng đã tạo nên không khí linh thiêng, trang trọng và thể hiện tinh thần đoàn kết bền chặt của người dân địa phương.
Ngày này, không gian làng Hát Môn rộn ràng trong tiếng trống, chiêng. Từng đoàn rước bánh trôi từ các thôn nối nhau tiến về đền trong sự thành kính. Phụ nữ trong làng mặc áo dài truyền thống với màu sắc riêng của từng thôn, tay nâng những mâm bánh trắng ngần, tròn đầy, tạo nên bức tranh văn hóa rực rỡ và giàu bản sắc. Những mâm bánh đẹp nhất được lựa chọn để dâng lên Hai Bà Trưng, phần còn lại được chia lộc cho dân làng và du khách thập phương.
Không chỉ tại đền, trong ngày này, mỗi gia đình ở Hát Môn cũng làm bánh trôi để dâng lên tổ tiên. Sau khi hoàn tất các nghi thức, mọi người quây quần bên nhau thưởng thức bánh.
Phó Trưởng Tiểu ban Quản lý di tích đền Hát Môn Trần Viết Minh chia sẻ với giọng đầy tự hào: “Người dân Hát Môn kiêng ăn bánh trôi trước ngày chính lễ. Dù sinh sống ở bất cứ nơi đâu, người làng Hát Môn vẫn giữ tục lệ này. Chỉ sau khi hoàn tất nghi lễ dâng cúng Hai Bà Trưng, người dân mới được thụ lộc. Đây không chỉ là phong tục mà còn là niềm tin tâm linh đã ăn sâu vào tiềm thức của mỗi người con quê hương. Niềm tin ấy trở thành sợi dây gắn kết cộng đồng, giúp mỗi người luôn hướng về cội nguồn. Nhiều người con Hát Môn dù đi học tập, công tác xa vẫn giữ phong tục này như một cách thể hiện lòng thành kính đối với Hai Bà Trưng”. Chính sự đồng lòng ấy đã góp phần làm nên sức sống bền bỉ của lễ hội qua bao thế hệ.
Biểu diễn nghệ thuật tại lễ hội đền Hát Môn (xã Hát Môn). Ảnh: Minh Phú
Gìn giữ di sản cho muôn đời sau
Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, lễ rước bánh trôi ở đền Hát Môn vẫn được bảo tồn gần như nguyên vẹn, bất chấp những biến đổi của thời gian và quá trình đô thị hóa.
Theo ông Trần Viết Minh, chính nếp nhà, nếp làng cùng sự truyền dạy bền bỉ của các thế hệ đã giúp phong tục này được duy trì. “Từ năm 1975, tôi đã đi công tác xa nhà, đến khi nghỉ hưu mới trở về quê hương, nhưng mọi nghi lễ của làng hầu như không thay đổi. Điều đó khiến tôi vô cùng xúc động và tự hào”, ông Trần Viết Minh chia sẻ.
Vinh dự được lựa chọn là “nhà chứa văn” của năm nay, ông Trần Nho Giáp (62 tuổi) cho biết: “Đây là lần thứ ba gia đình ông đảm nhận trọng trách này. Những ngày trước lễ hội, ngôi nhà luôn được dọn dẹp sạch sẽ, hương trầm thơm ngát lan tỏa khắp không gian”.
Là người am hiểu chữ Nho, ông Trần Nho Giáp đảm nhận cả việc viết văn tế cho làng, một công việc đòi hỏi sự cẩn trọng và lòng thành kính. Ông tâm sự: “Những truyền thống của quê hương được cha mẹ dặn dò rất kỹ. Nay tôi tiếp tục truyền lại cho con cháu, để người biết bảo người chưa biết, cùng nhau gìn giữ phong tục tổ tiên”.
Phó Trưởng Tiểu ban Quản lý di tích đền Hát Môn Trần Viết Minh cho biết: “Những năm gần đây, cùng với sự quan tâm đầu tư của thành phố Hà Nội, diện mạo quê hương Hát Môn đã có nhiều đổi thay tích cực. Tuyến đường nối từ quốc lộ 32 về xã được mở rộng, trải nhựa khang trang với hệ thống điện chiếu sáng hiện đại, tạo điều kiện thuận lợi cho du khách thập phương đi lại. Dòng sông Hát xưa đã và đang được cải tạo, kè bờ sạch, đẹp, trở thành điểm nhấn cảnh quan của địa phương. Các hồ, ao, giếng làng và đường làng, ngõ xóm cũng được chỉnh trang, góp phần xây dựng diện mạo nông thôn mới văn minh, hiện đại nhưng vẫn giữ được bản sắc truyền thống”.
Di tích quốc gia đặc biệt đền Hát Môn là nơi hội tụ nhiều giá trị văn hóa - lịch sử đặc sắc và từ tháng 9-2024 được công nhận là điểm du lịch của thành phố Hà Nội. Di tích không thu phí tham quan. Đặc biệt, khi đến đây, du khách còn được Ban Quản lý đón tiếp, hướng dẫn tận tình, tạo ấn tượng tốt đẹp về một điểm đến thân thiện, giàu giá trị nhân văn. Từ năm 2026, lễ hội đền Hát Môn được khai hội từ mùng 6 tháng Giêng, kéo dài chuỗi hoạt động văn hóa tâm linh phong phú, thu hút đông đảo các đoàn học sinh, cựu chiến binh và du khách trong và ngoài nước.
Bên cạnh đó, việc tổ chức các sự kiện văn hóa, thể thao đã góp phần quảng bá hình ảnh Hát Môn, tạo sức lan tỏa mạnh mẽ cho di sản văn hóa nơi đây. Sự kết hợp hài hòa giữa bảo tồn và phát triển đã giúp Hát Môn từng bước trở thành điểm đến hấp dẫn trên bản đồ du lịch văn hóa của Thủ đô.
Giữa nhịp sống hiện đại, khi nhiều giá trị truyền thống đứng trước nguy cơ mai một, những phong tục đẹp ở làng Hát Môn vẫn được gìn giữ như một “bảo tàng sống” của ký ức lịch sử. Nghi lễ không chỉ thể hiện lòng tri ân đối với Hai Bà Trưng mà còn là biểu tượng của sự đoàn kết cộng đồng, của niềm tự hào dân tộc và đạo lý “uống nước nhớ nguồn”. Trong dòng chảy hội nhập và phát triển, việc gìn giữ và lan tỏa những giá trị ấy sẽ góp phần làm phong phú bản sắc văn hóa Việt Nam, để di sản quý báu này mãi trường tồn cùng thời gian.
Nguyễn Mai