Sản lượng sản xuất và tiêu thụ nội địa tăng nhẹ
Trong năm 2026, sản lượng tiêu thụ phân bón tại thị trường Việt Nam được dự báo tăng nhẹ 2%, đạt 10,7 triệu tấn. Trong khi đó, sản lượng phân bón sản xuất nội địa được dự báo tăng nhẹ nhờ “đầu kéo” từ phân urê và phân lân.
Cụ thể, dự báo năm 2026, sản lượng sản xuất phân bón nội địa đạt xấp xỉ 9 triệu tấn, tăng nhẹ so với năm 2025. Phân NPK chiếm tỷ trọng lớn nhất, tiếp đó là phân đạm (urê). Sản lượng sản xuất urê và NPK được dự báo tăng nhẹ giai đoạn 2025-2027, còn các loại phân khác thì giữ nguyên.
Nhà máy Đạm Phú Mỹ. Ảnh: DPM.
Về urê, sản xuất nội địa của Việt Nam về cơ bản đã đáp ứng 100% nhu cầu. Tuy nhiên, Việt Nam đang còn phụ thuộc lớn vào nguồn nhập khẩu phân Kali, và một phần phân DAP – chủ yếu nhập khẩu từ Trung Quốc. Hiện Trung Quốc là thị trường nhập khẩu phân bón chính của Việt Nam, thứ hai là Nga.
Điểm sáng xuất khẩu
Trước khi chiến sự Trung Đông diễn ra, một báo cáo nghiên cứu từ Công ty chứng khoán MB (MBS) cho rằng, năm 2026 là điểm sáng xuất khẩu của các doanh nghiệp phân bón Việt Nam, đặc biệt là những doanh nghiệp có thế mạnh về sản xuất phân đạm (urê) là Đạm Phú Mỹ và Đạm Cà Mau thuộc Petro Việt Nam.
Xuất khẩu phân bón của Việt Nam năm 2026 được dự báo tăng trưởng nhẹ và duy trì ở mức trên 14%, đạt khoảng 1,8 triệu tấn và chiếm 14,3% với sản lượng tiêu thụ nội địa.
MBS cho biết, nhờ ưu thế địa lý, sự tương đồng về điều kiện canh tác và mối quan hệ thương mại truyền thống, Campuchia trở thành thị trường xuất khẩu phân bón lớn nhất của Việt Nam. Hàn Quốc là điểm sáng với tỷ trọng cao thứ hai và mức tăng trưởng đột biến (tăng 146,6% về lượng trong năm 2024), phản ánh chiến lược đa dạng hóa nguồn cung của Hàn Quốc, đặc biệt đối với phân urê, sau khi nguồn cung từ Trung Quốc và Nga bị gián đoạn. Ngoài ra, Philippines cũng là điểm đến tiềm năng khi Việt Nam đã tăng xuất khẩu 93,3% sản lượng phân bón sang thị trường này trong năm 2024.
Đạm Cà Mau xuất khẩu sản phẩm sang thị trường Mỹ. Ảnh: DCM.
Theo nhận định của MBS, chiến lược linh hoạt giữa kinh doanh nội địa và xuất khẩu phần nào giúp doanh nghiệp Việt bảo vệ biên lợi nhuận tốt hơn tùy thuộc vào từng giai đoạn và môi trường kinh doanh trong nước và quốc tế. Dự báo từ Hiệp hội Phân bón Quốc tế (IFA), nhu cầu phân bón toàn cầu tăng 2,2%, đạt 205 triệu tấn trong năm 2026; và giá phân urê trên thị trường quốc tế vẫn ở mức cao, là một yếu tố thuận lợi mở rộng doanh thu và biên lợi nhuận cho các nhà sản xuất phân bón Việt Nam.
Từ ngày 1.7.2025, phân bón thành phẩm sản xuất trong nước chịu mức thuế VAT đầu ra 5%, trong khi nguồn nguyên liệu đầu vào được khấu trừ thuế VAT đa phần ở mức cao hơn, giúp doanh nghiệp sản xuất phân bón Việt Nam được hoàn thuế dương, qua đó tiết giảm chi phí so với trước đây, nhờ đó tăng sức cạnh tranh với các doanh nghiệp phân bón quốc tế.
Tác động từ cuộc chiến Trung Đông
Từ ngày 28.3 đến nay, cuộc chiến Trung Đông bùng nổ đã tác động trực tiếp đến các doanh nghiệp sản xuất phân bón Việt Nam. Cụ thể, các nhà sản xuất phân bón như Đạm Cà Mau, Đạm Phú Mỹ, Hóa chất Đức Giang, Phân bón Bình Điền… có các mã cổ phiếu tương ứng là DCM, DPM, DGC, BFC… tăng giá mạnh kéo dài nhiều phiên.
Điều này cho thấy, nhà đầu tư kỳ vọng khi cuộc chiến Trung Đông nổ ra, việc vận chuyển không chỉ dầu mỏ mà cả phân bón từ khu vực này gặp nhiều thách thức và rủi ro vì eo biển Hormuz bị bóp nghẹt. Từ đó, các doanh nghiệp sản xuất phân bón tại Việt Nam được hưởng lợi vì có thể gia tăng xuất khẩu, tăng trưởng mạnh về doanh thu và lợi nhuận.
Cuộc chiến Trung Đông cũng chính là điều mà trong báo cáo nghiên cứu của MBS không thể lường tới được khi cho rằng giá phân bón tại thị trường Việt Nam trong năm 2026 có thể đi ngang hoặc giảm nhẹ. Nhưng trên thực tế, giá phân bón tại Việt Nam đã bắt đầu tăng từ thời điểm ngày 1.3 đến nay ở nhiều điểm bán thuộc các tỉnh khu vực ĐBSCL. Điều này cũng được kỳ vọng rằng giúp các nhà sản xuất phân bón Việt Nam gia tăng biên lợi nhuận trong năm nay.
Bến cảng của Đạm Cà Mau. Ảnh: DCM.
Tuy nhiên theo giới chuyên môn, các nhà sản xuất phân bón nội địa không phải là không gặp bất lợi. Được biết, sau khi nguồn khí tự nhiên từ các bể Cửu Long và Nam Côn Sơn bắt đầu suy giảm tự nhiên, Việt Nam cũng bắt đầu nhập khẩu khí tự nhiên – một thành phần nguyên liệu quan trọng sản xuất phân đạm (urê) để bù đắp nguồn thiếu hụt.
Hiện tại, mức bù đắp từ nhập khẩu chiếm từ khoảng 10-15% tổng nhu cầu khí cho cả sản xuất điện và công nghiệp (bao gồm phân bón). Dự báo đến năm 2030, lượng LNG (khí tự nhiên hóa lỏng) nhập khẩu sẽ tăng mạnh để bù đắp khoảng 11 tỷ m3 mỗi năm, tức tăng gấp 3 lần hiện tại, khi các mỏ khí cũ đã suy giảm sâu.
Trong bối cảnh cuộc chiến Trung Đông đang diễn ra căng thẳng, nguồn cung LNG nhập khẩu đã bị ảnh hưởng. Song về dài hạn, khi những căng thẳng địa chính trị như thế tại khu vực này cứ bùng phát, trong khi việc phụ thuộc khí LNG mỗi năm càng tăng nhằm đáp ứng cho nhu cầu sản xuất điện, sản xuất công nghiệp và phân bón tại Việt Nam, mức độ ảnh hưởng sẽ lớn hơn. Ngành phân bón sẽ gặp nguy cơ đứt gãy nguồn cung, giá khí tăng cao, từ đó ảnh hưởng đến sản lượng sản xuất, doanh thu và biên lợi nhuận.
Thế Lâm