Lễ hội đền Cuông 2026 diễn ra từ ngày 30/3/2026 đến ngày 3/4/2026 (tức ngày 12/2 đến 16/2 năm Bính Ngọ).
Lễ hội đền Cuông chính thức được tổ chức từ năm 1993, trước đó chỉ tồn tại dưới hình thức là lễ tế thần. Đến nay, lễ hội được tổ chức thường niên từ ngày 12 đến 16/2 âm lịch. Nơi đây được du khách biết đến như một điểm du lịch tâm linh đầu năm, trở thành nếp sống sinh hoạt không thể thiếu của người dân xứ Nghệ.
Đền Cuông, xã An Châu, tỉnh Nghệ An. Ảnh: Nguyễn Diệu
Thời phong kiến, triều đình quy định lễ hội đền Cuông là Quốc lễ. Trên mặt chính của lầu từ cổng tam quan đền Cuông hiện vẫn còn lưu được dòng chữ Nho đắp nổi rất lớn “Quốc tế thượng từ” (đền nhà nước tế). Phần lễ của lễ hội đền Cuông gồm: Lễ khai quang, lễ yết, lễ cáo trung thiên, lễ đại và lễ tạ. Ngoài ra, còn có thêm lễ túc trực. Khi tham gia lễ, các vị trong ban hành lễ sẽ phải mặc lễ phục theo quy định.
Dù là năm đầu tiên thực hiện mô hình chính quyền hai cấp, song với sự chỉ đạo quyết liệt của các cấp lãnh đạo và sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị, xã An Châu đã tổ chức Lễ hội Đền Cuông năm 2026 quy mô, bài bản, nội dung phong phú; tạo dấu ấn đậm nét, lan tỏa mạnh mẽ trong Nhân dân và du khách.
Nhiều hoạt động đặc sắc tại Lễ hội. Ảnh: Nguyễn Diệu
Sau phần khai mạc (đêm 31/3) là hoạt động nghi lễ văn hóa tâm linh và các tiết mục văn nghệ đặc sắc. Phần hội với hội diễn văn nghệ quần chúng, biểu diễn Ca trù, Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh và đặc biệt là cuộc thi “Thanh niên thanh lịch” – nơi tôn vinh vẻ đẹp và trí tuệ của thế hệ trẻ.
Cùng với không gian văn hóa nghệ thuật là các môn thể dục thể thao, bên cạnh các môn truyền thống như bóng chuyền nam/nữ, đẩy gậy, kéo co, cờ thẻ. Năm nay, lần đầu tiên Giải Pickleball được đưa vào chương trình thi đấu tại khu liên hợp thể thao Thành Trung Kiên, tạo nên nét mới mẻ, hiện đại cho lễ hội.
Nhiều sản phẩm OCOP của địa phương được trưng bày tại Lễ hội. Ảnh: Nguyễn Diệu
Bên cạnh đó, các trò chơi dân gian và hội trại cũng được tổ chức. Các hoạt động như nhảy bao bố, bịt mắt đập nồi, bắt vịt cùng hội trại của các khối Mặt trận, giáo dục, doanh nghiệp sẽ tạo nên không gian kết nối cộng đồng bền chặt. Điểm mới của năm nay là sự tham gia đồng bộ của các tổ chức đoàn thể như Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên trong các đoàn rước Vua, Công chúa và Tướng quân Cao Lỗ, tạo nên sự uy nghiêm, thể hiện sức mạnh đoàn kết của toàn dân.
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Văn hóa và Phát triển, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã An Châu Cao Đức Thắng chia sẻ: Lễ hội đền Cuông hiện nay đã trở thành một hoạt động văn hóa tâm linh không thể thiếu trong đời sống của người dân địa phương. Lễ hội được tổ chức hằng năm như một sự tri ân của thế hệ hôm nay đối với những người có công với đất nước, thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc mà thế hệ trẻ ngày nay cần học hỏi và phát huy.
Theo Truyền thuyết, Thục phán An Dương Vương nổi tiếng với tài binh lược và đặc biệt gắn liền với ông là ngôi thành Cổ Loa (Đông Anh - Hà Nộ) huyền thoại. Không chỉ vậy, ngôi thành này còn gắn liền với truyền thuyết vị thần Kim Quy và cái nỏ thần. Đất nước Âu Lạc thời An Dương Vương là thời kỳ hưng thịnh.
Năm 1975, đền được Bộ Văn hóa xếp hạng là di tích lịch sử - kiến trúc nghệ thuật. Ảnh: Nguyễn Diệu
Theo truyền thuyết, An Dương Vương tuẫn tiết ở cửa biển Mộ Dạ (Diễn Châu – Nghệ An).
An Dương Vương mất nước từ sự khinh địch, mất cảnh giác, không chịu nghe lời khuyên can của các trung thần gồm Đại tướng quốc Cao Lỗ, Thái sư phò mã Võ Quốc, Thống lĩnh bộ binh Hoàng Trị, các Đại tướng quân Chiêu Công, Phạm Giác…. Bản thân An Dương Vương mong mỏi sự hòa bình giữa hai quốc gia, chấm dứt chiến tranh loạn lạc từ tình yêu con trẻ. Nhưng chính điều đó lại là kẽ hở cho toan tính của cha con Triệu Đà lợi dụng len lỏi vào.
An Dương vương, tên thật là Thục Phán, là người lập nên nước Âu Lạc, nhà nước thứ hai trong lịch sử Việt Nam sau nhà nước Văn Lang. Niên đại trị vì của An Dương Vương được các tài liệu ghi khác nhau. Sử cũ như Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục cho rằng thời gian ông làm vua Âu Lạc kéo dài 50 năm, từ 257 TCN đến 208 TCN. Các sử gia hiện đại căn cứ vào Sử ký Tư Mã Thiên là tài liệu gần thời đại nước Âu Lạc nhất, cho rằng An Dương Vương và nước Âu Lạc tồn tại từ khoảng 208 TCN đến 179 TCN, tức là gần 30 năm.
Lễ hội đền Cuông chính thức được tổ chức từ năm 1993... Ảnh: Nguyễn Diệu
Bản thân An Dương Vương phải gánh chịu bi kịch khi phải tuốt gươm trừng phạt kẻ phản bội là chính con gái yêu của mình, rồi tuẫn tiết tại bờ biển Nghệ An. Nhà vua đã đứng trên quyền lợi quốc gia mà gạt bỏ tình riêng. Hành động đó rất được nhân dân coi trọng qua cách xử lý theo truyền thuyết của dân gian. Mỵ Châu phải trả giá cho sự nông nổi của mình nhưng nàng cũng kịp thức tỉnh để nhận ra bi kịch đau đớn. Một người con gái ngây thơ, trong trắng, đáng yêu bị phản bội, cuối cùng đã nhận ra kẻ thù nhưng đã quá muộn màng. Mỵ Châu đã hóa thành ngọc thạch, máu hóa thành ngọc trai ở biển Đông. Mỵ Châu thật đáng trách nhưng cũng thật đáng thương. Truyền thuyết không chỉ kể lại trang sử mất nước mà còn chứa đựng cả 2 cái nhìn thương cảm cho lứa đôi - khi tình yêu phải đối mặt với âm mưu.
Tiêu bản chim hạc trong tủ kính tại đền Cuông. Ảnh: Nguyễn Diệu
Sau khi cùng Mỵ Châu lên ngựa phóng về phương Nam, tới nơi bờ biển chắn ngang, đường bị cắt đứt, đò giang không thấy bóng người, An Dương Vương kêu lên rằng: “Trời đã bỏ ta, hỡi sứ giả đại giang mà ta đã gặp, hãy cứu ta!”. Từ mặt nước, thần Kim Quy nhô lên và nói: “Bệ hạ đang mang theo kẻ thù trên lưng ngựa. Cớ sao còn để làm gì?”. Thục An Dương Vương rút kiếm định chém đầu Mỵ Châu, thì nàng khẩn khoản lạy thưa: “Nếu vì lòng phản bội mà hại phụ vương thì sau khi chết con sẽ trở thành cát bụi. Nhưng nếu vì mù quáng, cả tin mà dẫn đến cảnh ngộ này thì sau khi con chết con sẽ hóa thành đá…”. Vừa dứt lời, An Dương Vương chém Mỵ Châu. Nàng nằm sõng soài trên cát trắng, máu nàng chảy xuống biển, những con trai hớp được đã biến thành ngọc quý ở trong lòng trai. Thi thể của nàng chìm xuống đáy sâu của biển và cũng biến thành một tảng đá.
Lễ rước kiệu vua và công chúa là phần lễ đặc sắc nhất. Ảnh: Nguyễn Diệu
Để tưởng nhớ công lao to lớn của ngài, người dân đã lập miếu thờ ở cửa Hiền.
Điện thờ Thục Phán An Dương Vương. Ảnh: Nguyễn Diệu
Cái chết của vua An Dương Vương đã để lại cho muôn đời vẫn còn giá trị từ ý nghĩa nhân văn, từ bài học cảnh giác đến lời nhắc nhở về cách giải quyết về cái chung và cái riêng; việc nước và việc nhà. Điều đó được truyền lại cho hậu thế vẫn biết là chứa đựng bài học mất nước sâu sắc. Đã mất nước là nhà tan, dân chúng điêu linh.
Theo truyền thuyết kể lại, tuy đã có miếu thờ, nhưng mỗi khi màn đêm buông xuống, trên núi Mộ Dạ thường xuất hiện những đốm lửa lập lòe. Nhân dân cho rằng đó chính là linh hồn của vua Thục Phán muốn yên ngự trên núi, người dân sau đó đã lập đền thờ và rước linh hồn Vua về thờ phụng. Đền thờ An Dương Vương trên núi Mộ Dạ có từ ngày đó.
Nguyễn Diệu