Trong bối cảnh nhu cầu điện năng tiếp tục tăng cao, yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng ngày càng cấp thiết và cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 đang bước vào giai đoạn triển khai mạnh mẽ, việc Quốc hội thông qua Nghị quyết số 253/2025/QH15 ngày 11/12/2025 về các cơ chế, chính sách phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026-2030 được đánh giá là một dấu mốc quan trọng trong hoàn thiện thể chế ngành năng lượng.
Nghị quyết không chỉ đặt ra những mục tiêu cụ thể cho giai đoạn 5 năm tới, mà còn mở ra khung chính sách mới với kỳ vọng tạo đột phá về thu hút đầu tư, phát triển năng lượng tái tạo, năng lượng mới, đồng thời củng cố nền tảng an ninh năng lượng quốc gia và tăng trưởng dài hạn.
Để làm rõ hơn những điểm mới, những cơ chế được coi là “đòn bẩy” trong Nghị quyết 253, cũng như các điều kiện then chốt để chính sách đi vào cuộc sống, phóng viên PetroTimes đã có cuộc trao đổi với TS Ngô Đức Lâm, nguyên Phó Viện trưởng Viện Năng lượng (Bộ Công Thương), người có nhiều năm nghiên cứu và tư vấn chính sách trong lĩnh vực điện và năng lượng.
TS Ngô Đức Lâm, nguyên Phó Viện trưởng Viện Năng lượng (Bộ Công Thương)
PV: Theo ông, đâu là những cơ chế, chính sách đột phá của Nghị quyết số 253/2025/QH15 ngày 11/12/2025?
TS Ngô Đức Lâm: Theo tôi, điểm đột phá lớn nhất của Nghị quyết 253 được Quốc hội thông qua không chỉ nằm ở các chỉ tiêu tăng trưởng nguồn điện, mà ở cách tiếp cận thể chế mang tính “mở đường” cho toàn bộ hệ thống năng lượng quốc gia trong giai đoạn phát triển mới.
Trước hết, Nghị quyết tạo hành lang pháp lý đủ mạnh để tháo gỡ đồng bộ những điểm nghẽn kéo dài của ngành năng lượng, từ quy hoạch nguồn và lưới điện, cơ chế vận hành hệ thống điện, đến sự thiếu cân đối giữa điện nền và năng lượng tái tạo. Việc cho phép điều chỉnh linh hoạt quy hoạch giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn 2045 giúp hệ thống không còn bị “đóng khung” cứng nhắc, có thể thích ứng nhanh với biến động phụ tải, công nghệ và thị trường.
Thứ hai, Nghị quyết định hướng tái cấu trúc cơ cấu nguồn điện theo hướng hiện đại, cân bằng và bền vững hơn. Tỷ trọng năng lượng tái tạo dự kiến đạt 28-33% vào năm 2030, đồng thời đẩy mạnh phát triển điện gió ngoài khơi, điện khí LNG và điện mặt trời mái nhà. Đột phá không chỉ ở việc tăng tỷ lệ “xanh”, mà ở mục tiêu xây dựng hệ thống điện linh hoạt, hài hòa giữa nguồn điện nền và nguồn điện biến đổi.
Thứ ba, Nghị quyết mở rộng không gian huy động vốn xã hội thông qua thị trường điện cạnh tranh, cho phép các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát điện và lưới điện theo cơ chế minh bạch. Cơ chế giá điện từng bước vận hành theo tín hiệu thị trường, gắn với bảo đảm an sinh xã hội, tạo nền tảng tài chính bền vững cho ngành.
Cuối cùng, việc đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và cải cách thủ tục hành chính sẽ rút ngắn thời gian triển khai dự án, giúp các dự án năng lượng được thực hiện nhanh hơn, hiệu quả hơn. Đặc biệt, nghị quyết mở rộng thẩm quyền cho địa phương trong công tác giải phóng mặt bằng, huy động nguồn lực… Tổng thể, các cơ chế này thể hiện rõ tinh thần năng lượng phải “đi trước một bước”, tạo nền tảng cho an ninh năng lượng và tăng trưởng dài hạn.
PV: Thưa ông, các chính sách đó đóng vai trò như thế nào trong việc củng cố an ninh năng lượng và tăng trưởng dài hạn?
TS Ngô Đức Lâm: Các cơ chế, chính sách trong Nghị quyết 253 do Quốc hội ban hành có ý nghĩa rất quan trọng đối với cả an ninh năng lượng lẫn triển vọng tăng trưởng dài hạn. Trước hết, Nghị quyết góp phần tái định nghĩa an ninh năng lượng theo hướng toàn diện hơn. Không chỉ là bảo đảm đủ điện, mà là đủ điện với cơ cấu hợp lý, chi phí phù hợp và khả năng chống chịu cao trước biến động bên ngoài. Việc cân bằng giữa điện nền, điện khí LNG và năng lượng tái tạo giúp hệ thống vận hành ổn định hơn, giảm phụ thuộc vào một loại nhiên liệu, đồng thời hạn chế rủi ro từ các cú sốc giá và đứt gãy nguồn cung toàn cầu.
Song song đó, định hướng tăng mạnh tỷ trọng năng lượng tái tạo, phát triển điện gió ngoài khơi, điện mặt trời mái nhà và lưới điện thông minh không chỉ nhằm giảm phát thải mà còn nâng cao tính linh hoạt của hệ thống điện. Khi nguồn cung được đa dạng hóa và phân bổ hợp lý, áp lực lên hạ tầng truyền tải giảm xuống, độ tin cậy cung ứng được cải thiện. Đây là điều kiện then chốt để bảo đảm điện cho các ngành sản xuất quy mô lớn, trung tâm dữ liệu và lĩnh vực công nghệ cao.
Ở góc độ dài hạn, năng lượng là “hạ tầng của hạ tầng”. Mục tiêu nâng sản lượng điện lên hơn 500 tỷ kWh vào năm 2030 cho thấy Nghị quyết đã chuẩn bị dư địa cho nền kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong nhiều năm tới. Khi doanh nghiệp tin tưởng vào nguồn điện ổn định, cơ chế giá minh bạch và thị trường vận hành rõ ràng, họ sẽ mạnh dạn mở rộng đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh.
Đồng thời, việc vận hành giá điện theo tín hiệu thị trường và mở rộng huy động vốn xã hội giúp ngành năng lượng có nguồn lực tái đầu tư bền vững, giảm áp lực lên ngân sách. Như vậy, các chính sách này không chỉ bảo đảm an ninh năng lượng trước mắt mà còn tạo nền tảng thể chế và vật chất vững chắc cho tăng trưởng bền vững trong dài hạn.
Nghị quyết 253/2025/QH15 định hướng phát triển điện gió ngoài khơi, điện khí LNG, năng lượng tái tạo và lưới điện thông minh được xác lập ở cấp chính sách cao nhất ( Ảnh minh họa)
PV: Ông nhìn nhận việc chuyển dịch năng lượng theo tinh thần Nghị quyết 253/2025/QH15 trong việc tạo ra những lợi thế thu hút đầu tư và hình thành các ngành công nghiệp năng lượng mới như thế nào?
TS Ngô Đức Lâm: Chuyển dịch năng lượng theo tinh thần Nghị quyết 253/2025/QH15 không chỉ là yêu cầu về môi trường hay điều chỉnh cơ cấu nguồn điện, mà là một chiến lược tái định vị nền kinh tế trong chuỗi giá trị năng lượng toàn cầu. Nếu được triển khai đồng bộ, quá trình này sẽ tạo ra lợi thế đáng kể trong thu hút đầu tư và thúc đẩy hình thành các ngành công nghiệp mới.
Điểm quan trọng là Nghị quyết tạo ra không gian đầu tư rõ ràng, ổn định và có tầm nhìn dài hạn. Khi định hướng phát triển điện gió ngoài khơi, điện khí LNG, năng lượng tái tạo và lưới điện thông minh được xác lập ở cấp chính sách cao nhất, nhà đầu tư có thể nhìn thấy quy mô thị trường đủ lớn cùng lộ trình tương đối minh bạch. Với các dự án có vòng đời 20-30 năm, sự ổn định thể chế giúp giảm rủi ro, từ đó hạ chi phí vốn và tăng sức hấp dẫn của thị trường Việt Nam.
Quá trình chuyển dịch này cũng mở ra cơ hội phát triển các chuỗi công nghiệp mới có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao. Điện gió ngoài khơi kéo theo nhu cầu về chế tạo thiết bị, kết cấu móng, dịch vụ cảng biển và kỹ thuật lắp đặt chuyên dụng. Hạ tầng LNG thúc đẩy đầu tư vào kho cảng, tái hóa khí, đường ống và dịch vụ kỹ thuật đi kèm. Nếu có chính sách nội địa hóa phù hợp, Việt Nam có thể từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng khu vực.
Bên cạnh đó, hệ thống điện xanh hơn sẽ nâng cao sức hút đối với dòng vốn FDI chất lượng cao, nhất là các tập đoàn yêu cầu sử dụng năng lượng sạch trong chuỗi sản xuất. Cơ chế thị trường điện cạnh tranh và các mô hình như mua bán điện trực tiếp, lưu trữ năng lượng hay dịch vụ quản lý phụ tải cũng tạo nền tảng cho hệ sinh thái doanh nghiệp năng lượng sáng tạo. Tổng thể, đây là cơ hội để tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng xanh, công nghệ cao và hội nhập sâu rộng hơn.
PV: Có thể nói Nghị quyết 253/2025/QH15 là yếu tố mở đường, nhưng hiệu quả cuối cùng lại phụ thuộc rất lớn vào khâu triển khai, vậy theo ông đâu là yếu tố then chốt để Nghị quyết đi vào cuộc sống?
TS Ngô Đức Lâm: Nghị quyết 253/2025/QH15 có thể được ví như một “khung đường ray” quan trọng, nhưng để đoàn tàu năng lượng vận hành đúng hướng và đạt tốc độ kỳ vọng thì khâu tổ chức thực hiện mới là yếu tố quyết định. Có ít nhất bốn yếu tố then chốt để Nghị quyết thực sự đi vào cuộc sống.
Trước hết là sự đồng bộ và nhất quán trong hệ thống văn bản dưới luật. Sau khi Nghị quyết được ban hành, Chính phủ và các bộ, ngành phải nhanh chóng cụ thể hóa bằng nghị định, thông tư, cơ chế hướng dẫn rõ ràng, tránh tình trạng “chờ đợi văn bản” khiến dự án đình trệ. Nếu quy hoạch, cơ chế giá, thủ tục đầu tư và cơ chế đấu thầu không được thiết kế đồng bộ, tinh thần đột phá của Nghị quyết sẽ bị suy giảm đáng kể.
Thứ hai là, cải cách thủ tục hành chính thực chất, đi kèm phân cấp, phân quyền rõ ràng. Nghị quyết đã mở đường cho việc rút ngắn quy trình và trao thêm thẩm quyền cho địa phương, nhưng điều quan trọng là phải xác định rõ trách nhiệm, quyền hạn và cơ chế phối hợp giữa Trung ương - địa phương - doanh nghiệp. Nếu phân quyền mà không đi kèm cơ chế giám sát minh bạch, hoặc vẫn tồn tại tình trạng chồng chéo thẩm quyền, tiến độ các dự án lớn như điện gió ngoài khơi hay LNG vẫn có thể bị kéo dài.
Thứ ba là, bảo đảm tính minh bạch và ổn định của cơ chế giá điện, thị trường điện cạnh tranh. Nhà đầu tư chỉ yên tâm bỏ vốn dài hạn khi họ có thể dự báo được dòng tiền và khung chính sách trong 10-20 năm. Vì vậy, việc vận hành giá điện theo tín hiệu thị trường phải đi đôi với cam kết ổn định chính sách, hạn chế thay đổi đột ngột gây rủi ro pháp lý và tài chính.
Thứ tư là, nâng cao năng lực điều hành và quản trị hệ thống năng lượng. Khi tỷ trọng năng lượng tái tạo tăng cao, yêu cầu về vận hành hệ thống điện thông minh, dự báo phụ tải, lưu trữ năng lượng và điều độ linh hoạt sẽ phức tạp hơn rất nhiều. Nếu không đầu tư tương xứng cho công nghệ, nhân lực và quản trị hiện đại, mục tiêu chuyển dịch xanh có thể gây áp lực ngược lên hệ thống.
Cuối cùng, yếu tố nền tảng vẫn là tính quyết liệt và trách nhiệm trong thực thi. Khi các cơ quan quản lý, địa phương và doanh nghiệp cùng nhận thức rõ vai trò của năng lượng đối với an ninh quốc gia và tăng trưởng dài hạn, đồng thời hành động trên tinh thần minh bạch, trách nhiệm giải trình cao, Nghị quyết 253 mới thực sự phát huy được ý nghĩa mở đường và trở thành động lực phát triển cho giai đoạn mới.
PV: Xin cảm ơn ông!
Mạnh Tưởng ( thực hiện)