Nghị quyết 253: Thúc đẩy chuỗi giá trị điện gió ngoài khơi

Nghị quyết 253: Thúc đẩy chuỗi giá trị điện gió ngoài khơi
4 giờ trướcBài gốc
Nghị quyết 253/2025/QH15 về cơ chế, chính sách phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 (Nghị quyết 253) đã đặt điện gió ngoài khơi vào một khung cơ chế đặc thù, thể hiện sự điều chỉnh quan trọng trong tư duy phát triển năng lượng.
Trong cuộc trao đổi với phóng viên Báo Công Thương - TS. Dư Văn Toán - Chuyên gia về môi trường, biển và hải đảo, Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đã làm rõ những chuyển dịch trong tư duy chính sách, cách tiếp cận hài hòa giữa năng lượng và môi trường, cũng như vai trò của địa phương trong triển khai điện gió ngoài khơi.
TS. Dư Văn Toán - Chuyên gia về môi trường, biển và hải đảo, Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển
Bước chuyển về tư duy
- Nghị quyết 253 của Quốc hội thiết kế một khung cơ chế riêng cho điện gió ngoài khơi, dưới góc nhìn của một nhà khoa học môi trường biển, ông đánh giá thế nào về tư duy phát triển điện gió ngoài khơi được thể hiện trong Nghị quyết này?
TS. Dư Văn Toán: Ở đây không còn là câu chuyện bổ sung thêm một loại nguồn điện mới mà là cách Nhà nước định vị điện gió ngoài khơi như một lĩnh vực phát triển chiến lược, gắn với không gian biển quốc gia.
Việc xây dựng một khung cơ chế riêng cho thấy sự thừa nhận rõ ràng rằng, biển có những đặc thù rất khác đất liền và không thể áp dụng rập khuôn các mô hình phát triển sẵn có. Đồng thời thể hiện tư duy phát triển có trật tự, có định hướng dài hạn cho không gian biển thay vì làm theo kiểu thăm dò hay manh mún.
Một điểm tôi đánh giá cao là tư duy chủ động, không đợi thực tiễn phát sinh vướng mắc rồi mới xử lý mà đi trước một bước trong việc thiết kế khung chính sách. Điều này rất quan trọng với một lĩnh vực mới mẻ và có nhiều rủi ro như điện gió ngoài khơi. Khi khung cơ chế đã được xác lập ở tầm Quốc hội, các chủ thể tham gia sẽ có niềm tin và có cơ sở để tính toán dài hạn.
- Những điểm nào theo ông cho thấy sự dịch chuyển quan trọng trong cách tiếp cận giữa phát triển năng lượng và bảo vệ môi trường biển?
TS. Dư Văn Toán: Rõ ràng đây sự thay đổi khá căn bản trong cách đặt mối quan hệ giữa phát triển năng lượng và bảo vệ môi trường biển. Trước đây, hai mục tiêu này thường được xử lý theo trình tự, tức là ưu tiên làm dự án năng lượng trước rồi mới tính đến các vấn đề môi trường ở các bước sau. Cách làm đó dễ dẫn tới tình trạng bị động khi phát sinh xung đột trong quá trình triển khai.
Trong Nghị quyết 253 thì khác, ngay từ khâu xem xét dự án điện gió ngoài khơi, các yếu tố về tài nguyên biển, môi trường, hàng hải, dầu khí, quốc phòng và an ninh đã được đặt song song với mục tiêu phát triển năng lượng. Điều này cho thấy, bảo vệ môi trường biển không còn là yêu cầu bổ sung mà đã trở thành một điều kiện nền tảng của quá trình ra quyết định.
Một điểm nữa là vai trò của quy hoạch tổng thể. Các dự án năng lượng ngoài khơi phải nằm trong quy hoạch được phê duyệt, điều đó đồng nghĩa với việc các tác động môi trường phải được xem xét trong bức tranh tổng thể. Với khoa học môi trường biển, đây là cách tiếp cận rất cần thiết vì các hệ sinh thái biển luôn chịu tác động cộng hưởng từ nhiều hoạt động khác nhau.
Có thể thấy tư duy phòng ngừa được đề cao hơn so với trước. Thay vì chấp nhận rủi ro môi trường rồi xử lý khi xảy ra sự cố, Nghị quyết hướng tới việc hạn chế rủi ro ngay từ khâu lựa chọn, sắp xếp và triển khai các hoạt động phát triển. Điều này cho thấy, bảo vệ môi trường biển đang dần được tiếp cận theo hướng chủ động.
Điện gió ngoài khơi được xác định là giải pháp đột phá trong chuyển dịch năng lượng, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Ảnh minh họa
Mở đường cho dòng vốn
- Một điểm mới của Nghị quyết 253 là, cho phép rút gọn thủ tục và linh hoạt hơn trong lựa chọn nhà đầu tư điện gió ngoài khơi. Ông đánh giá cơ chế này sẽ tác động như thế nào tới tiến độ triển khai dự án và khả năng thu hút dòng vốn đầu tư dài hạn?
TS. Dư Văn Toán: Điều này chắc chắn sẽ tạo ra thay đổi khá rõ về nhịp độ triển khai các dự án điện gió ngoài khơi. Thực tế điện gió ngoài khơi là loại hình đầu tư có quy mô lớn, thời gian chuẩn bị dài và chi phí ban đầu rất cao. Thủ tục kéo dài và thiếu rõ ràng, nhà đầu tư khó có thể tính toán chính xác dòng tiền và tiến độ, từ đó làm chùn bước các dòng vốn dài hạn.
Cơ chế mới giúp giảm đáng kể thời gian chờ đợi giữa các khâu quan trọng, qua đó rút ngắn giai đoạn chuẩn bị dự án. Điều này đặc biệt có ý nghĩa với các dự án ngoài khơi bởi mỗi năm chậm trễ đều kéo theo chi phí cơ hội rất lớn.
Do đó, sự linh hoạt trong lựa chọn nhà đầu tư mang lại tín hiệu tích cực cho thị trường. Điện gió ngoài khơi đòi hỏi năng lực tổng hợp rất cao về tài chính, công nghệ, kinh nghiệm triển khai ngoài khơi. Khi cơ chế cho phép lựa chọn những nhà đầu tư thực sự phù hợp thay vì chỉ dựa trên các tiêu chí hình thức, khả năng thành công của dự án sẽ cao hơn.
Quan trọng hơn, Nghị quyết 253 tạo ra cảm giác ổn định và có thể dự báo được cho nhà đầu tư. Với các dự án có vòng đời vài chục năm, yếu tố dự báo chính sách đóng vai trò rất quan trọng. Khung cơ chế rõ ràng, thủ tục được đơn giản hóa, các dòng vốn dài hạn, đặc biệt là vốn quốc tế sẽ tự tin hơn khi tham gia vào điện gió ngoài khơi tại Việt Nam.
- Nghị quyết 253 quy định cụ thể về khảo sát điện gió ngoài khơi và cơ chế hạch toán chi phí khảo sát trong trường hợp dự án không khả thi. Theo ông cơ chế này có vai trò ra sao trong việc nâng cao chất lượng dữ liệu môi trường biển và giảm rủi ro môi trường trong suốt vòng đời dự án?
TS. Dư Văn Toán: Điểm tôi đánh giá cao là Nghị quyết đã nhìn thẳng vào thực tế rằng khảo sát ngoài khơi tốn kém, phức tạp và có khả năng không dẫn tới dự án khả thi. Việc cho phép hạch toán chi phí khảo sát trong trường hợp dự án không triển khai được giúp giải tỏa tâm lý ngại làm sâu vốn tồn tại khá phổ biến. Khi không còn áp lực phải thu hồi bằng mọi giá, các đơn vị khảo sát sẽ có động lực đầu tư bài bản hơn cho công tác thu thập dữ liệu.
Với khoa học môi trường biển, dữ liệu khảo sát là nền tảng để dự báo và kiểm soát rủi ro. Khảo sát điện gió ngoài khơi gồm nhiều nội dung như đo gió, địa chất đáy biển, dòng chảy, trầm tích, sinh thái đáy, sinh vật phù du, các tuyến di cư sinh học và biến động theo mùa... Nếu dữ liệu này thiếu hoặc không đủ độ tin cậy, các tác động môi trường có thể bị đánh giá thấp và chỉ xuất hiện rõ trong giai đoạn thi công hoặc vận hành.
Cơ chế mới góp phần giảm rủi ro môi trường theo cách rất căn cơ. Dữ liệu đầu vào đầy đủ và tin cậy giúp các quyết định về vị trí móng trụ, hướng tuyến cáp ngầm, thời điểm thi công và các biện pháp giảm thiểu tác động bám sát điều kiện thực tế hơn. Nhờ đó, mức độ tổn thương đối với hệ sinh thái biển được hạn chế đáng kể, đồng thời dự án có điều kiện vận hành ổn định và giảm thiểu nguy cơ phát sinh sự cố trong suốt quá trình triển khai.
Củng cố vị thế quốc gia mạnh về biển
- Nghị quyết 253 mở rộng vai trò của địa phương trong việc triển khai điện gió ngoài khơi ở các giai đoạn. Theo ông, các địa phương cần chú trọng những yếu tố nào để bảo đảm điện gió ngoài khơi phát triển hiệu quả và bền vững?
TS. Dư Văn Toán: Điều quan trọng nhất là các địa phương cần nhận thức rõ điện gió ngoài khơi không phải là một dự án riêng lẻ, đó là một hoạt động phát triển dài hạn gắn chặt với vùng biển. Do đó cần thay đổi cách tiếp cận từ "tham gia dự án" sang "đồng hành lâu dài", xuyên suốt từ khâu chuẩn bị, thi công đến vận hành.
Trước hết, cần nắm chắc hiện trạng sử dụng biển và các hoạt động kinh tế hiện hữu để tránh chồng lấn, xung đột lợi ích. Do liên quan nhiều lĩnh vực như: môi trường, thủy sản và giao thông biển, vai trò điều phối liên ngành của địa phương là then chốt nhằm xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh.
Tôi cũng muốn nhấn mạnh tới yếu tố con người. Cán bộ trực tiếp tham gia quản lý cần được trang bị kiến thức mới về năng lượng tái tạo ngoài khơi và các vấn đề môi trường biển. Nếu vẫn áp dụng cách làm quen thuộc trên đất liền hiệu quả sẽ không cao. Đồng thời, việc chủ động đối thoại, chia sẻ thông tin với cộng đồng ven biển sẽ tạo đồng thuận xã hội, nền tảng cho phát triển bền vững.
Về dài hạn, điện gió ngoài khơi thúc đẩy hình thành các chuỗi sản xuất và dịch vụ mới, mở ra nhiều việc làm có thu nhập cao. Hạ tầng kỹ thuật phục vụ điện gió đồng thời tạo nền tảng liên kết cho các ngành kinh tế biển như du lịch, tinh chế muối, sản xuất hydrogen xanh từ nước biển, cùng hoạt động quan trắc, giám sát và nghiên cứu khoa học môi trường.
Các công trình điện gió ngoài khơi còn xác lập những cột mốc hiện diện kinh tế, kỹ thuật bền vững trên biển, qua đó củng cố vị thế quốc gia mạnh về biển, gắn chặt với khoa học và công nghệ.
Xin cảm ơn ông!
Dự kiến ngày 29/1, Báo Công Thương tổ chức diễn đàn "Hiện thực hóa cơ chế, chính sách phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026 - 2030", góp phần cụ thể hóa Nghị quyết của Quốc hội về các cơ chế, chính sách phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026 - 2030.Diễn đàn có sự tham gia của đại diện cơ quan quản lý, các chuyên gia và doanh nghiệp…, tập trung bàn giải pháp tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, huy động nguồn lực và thúc đẩy các lĩnh vực then chốt, góp phần đưa Nghị quyết vào cuộc sống.
Nguyên Thảo (thực hiện)
Nguồn Công Thương : https://congthuong.vn/nghi-quyet-253-thuc-day-chuoi-gia-tri-dien-gio-ngoai-khoi-440720.html