Theo đó, Viện hợp tác với Hợp tác xã Sâm núi Dành Đức Hạnh (xã Phúc Hòa) nghiên cứu, ứng dụng các nội dung: Nghiên cứu xây dựng quy trình sản xuất Sâm nam núi Dành hữu cơ theo tiêu chuẩn trồng trọt hữu cơ; nghiên cứu chế biến sâu dược liệu Sâm nam núi Dành; nghiên cứu xây dựng mô hình sản xuất Sâm nam núi Dành theo tiêu chuẩn hữu cơ ứng dụng công nghệ số theo chuỗi liên kết từ sản xuất - chế biến - tiêu thụ sản phẩm; biên soạn sổ tay hướng dẫn thực hành sản xuất Sâm nam núi Dành theo tiêu chuẩn hữu cơ ứng dụng công nghệ số trong quản lý, truy xuất; tổ chức hội thảo khoa học, tập huấn kỹ thuật…
Vườn sâm sản xuất theo tiêu chuẩn hữu cơ của Hợp tác xã Sâm núi Dành Đức Hạnh, xã Phúc Hòa.
Các nhiệm vụ này được thực hiện trong 2 năm với tổng kinh phí hơn 2,6 tỷ đồng.
Được biết, toàn xã Phúc Hòa có hơn 120 ha sâm nam núi Dành, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng diện tích trồng Sâm nam của toàn tỉnh. Sản xuất chủ yếu do các hộ dân thực hiện, liên kết thông qua tổ hợp tác và hợp tác xã. Trong đó Hợp tác xã Sâm núi Dành Đức Hạnh là đơn vị nòng cốt trong tổ chức sản xuất, thu mua, sơ chế và bước đầu chế biến sản phẩm. Sản phẩm Sâm nam núi Dành có chất lượng tốt, tạo dựng được uy tín trên thị trường.
Tuy nhiên, việc kiểm soát chất lượng, chuẩn hóa quy trình canh tác, sơ chế - chế biến và truy xuất nguồn gốc vẫn chưa đồng bộ. Chế biến sâu còn hạn chế; tiêu thụ chủ yếu dựa vào thị trường nội địa và các kênh truyền thống, chưa hình thành chuỗi liên kết ổn định với hợp đồng dài hạn. Do đó, việc thực hiện mô hình sản xuất sâm hữu cơ ứng dụng công nghệ số sẽ giúp sản phẩm được đồng bộ từ khâu sản xuất đến tiêu thụ, truy xuất nguồn gốc xuất xứ, giữ vững thương hiệu sản phẩm.
Trịnh Lan