Giống ngô lai QT55 cho tán lá khỏe, sinh khối lớn, khẳng định hiệu quả từ ứng dụng KHCN vào sản xuất.
Hành trình hình thành giống ngô lai QT55 bắt đầu từ năm 2009, trong bối cảnh yêu cầu đổi mới giống cây trồng, nâng cao năng suất và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu ngày càng trở nên cấp thiết. Nhóm nghiên cứu do TS. Lê Văn Ninh, Phó trưởng Khoa Nông Lâm Ngư nghiệp (Trường Đại học Hồng Đức) chủ trì đã kiên trì theo đuổi hướng lai tạo giống ngô mới phù hợp với điều kiện sinh thái đa dạng của Việt Nam, đặc biệt là khu vực Bắc Trung bộ.
Giai đoạn đầu của đề tài tập trung vào việc chọn và duy trì các dòng ngô thuần có khả năng kết hợp cao. Trong suốt 3 năm (2009-2012), nhóm nghiên cứu đã chọn lọc và ổn định 4 dòng ngô thuần tiêu biểu gồm D4, D8, D100 và D54. Đây là những dòng có thời gian sinh trưởng ngắn ngày, ít nhiễm sâu bệnh nguy hiểm như sâu đục thân, sâu đục bắp, rệp cờ; đồng thời thể hiện khả năng chống đổ tốt, chịu hạn và chịu rét khá. Đặc biệt, năng suất của các dòng thuần này đạt từ 2,06 - 2,77 tấn/ha, hàm lượng protein dao động 10,4 - 12,07%, tạo nền tảng quan trọng cho công tác lai tạo.
Trên cơ sở các dòng bố mẹ ưu tú, từ năm 2013-2017, nhóm nghiên cứu bước vào giai đoạn lai tạo các tổ hợp lai và khảo nghiệm trên nhiều vùng sinh thái khác nhau. Hàng loạt tổ hợp lai được tạo ra, trong đó nổi bật là các tổ hợp ngắn ngày như D6 × D54, D4 × D54, D100 × D54 và tổ hợp trung ngày D8 × D54. Các tổ hợp này được đưa đi khảo nghiệm tác giả tại nhiều vùng trồng ngô của Thanh Hóa cũng như các khu vực sinh thái khác trên cả nước.
Quá trình khảo nghiệm không chỉ nhằm đánh giá năng suất mà còn tập trung phân tích khả năng chống chịu sâu bệnh, tính ổn định giữa các vụ và sự thích nghi với điều kiện khí hậu khác nhau. Kết quả cho thấy, từ bốn tổ hợp lai ban đầu, nhóm nghiên cứu đã chọn tạo thành công 3 giống ngô lai triển vọng gồm QT35, QT68 và QT55. Trong đó, QT55 nổi lên là giống ngô hội tụ nhiều ưu điểm vượt trội, phù hợp với cả sản xuất ngô thương phẩm và ngô sinh khối.
Giống ngô lai QT55 có thời gian sinh trưởng ngắn, dao động 112 - 115 ngày vụ xuân và 105 - 107 ngày vụ thu đông; ít nhiễm sâu đục thân, sâu đục bắp, rệp cờ; tỷ lệ nhiễm bệnh khô vằn, đốm lá lớn và thối thân đều ở mức thấp. Đặc biệt, QT55 cho năng suất trung bình 7,82 tấn/ha, vượt giống đối chứng DK9901 tới 14,6%, hàm lượng protein đạt 10,73%. Những con số này không chỉ phản ánh hiệu quả khoa học mà còn cho thấy tiềm năng lớn trong sản xuất đại trà. Kết quả thực tế cho thấy, năng suất của các mô hình ngô QT55 dao động từ 6,9 - 8,2 tấn/ha, vượt giống đối chứng CP333 từ 1,8 - 23,4%. Không chỉ tăng về sản lượng, hiệu quả kinh tế của QT55 cũng được khẳng định rõ rệt khi chi phí sản xuất hợp lý, khả năng chống chịu sâu bệnh tốt giúp giảm chi phí thuốc bảo vệ thực vật, đồng thời tính ổn định năng suất giữa các vụ mang lại sự yên tâm cho người trồng.
Tại Thanh Hóa, mô hình trồng ngô QT55 ở xã Hoằng Đạo và xã Thiệu Nguyên (cũ) cho thấy hiệu quả kinh tế vượt giống đối chứng từ 2,98% đến hơn 4%. Song song với việc xây dựng mô hình, đề tài đã hoàn thiện hệ thống quy trình kỹ thuật phục vụ sản xuất giống QT55, bao gồm quy trình sản xuất hạt lai F1, quy trình thâm canh ngô thương phẩm và quy trình trồng ngô sinh khối. Đây là yếu tố then chốt giúp kết quả nghiên cứu có thể nhân rộng bền vững trong thực tiễn.
Giá trị lan tỏa của đề tài còn thể hiện ở khía cạnh đào tạo và chuyển giao KH&CN. Nhóm nghiên cứu đã đào tạo thành công 8 học viên cao học, 3 sinh viên đại học; tổ chức tập huấn kỹ thuật cho khoảng 1.500 lượt nông dân tại các địa phương tham gia mô hình. Các tài liệu hướng dẫn, báo cáo khoa học và phương án nhân rộng cũng được xây dựng đầy đủ, góp phần đưa tiến bộ khoa học đến gần hơn với người sản xuất.
TS. Lê Văn Ninh cho biết: “Ngô lai QT55 là kết quả của một quá trình nghiên cứu bền bỉ, nghiêm túc và gắn chặt với yêu cầu sản xuất. Thành công lớn nhất của đề tài không chỉ nằm ở những chỉ số năng suất hay khả năng chống chịu sâu bệnh, mà ở việc giống QT55 đã thích ứng tốt trên nhiều vùng sinh thái, mang lại hiệu quả kinh tế ổn định cho nông dân. Chúng tôi tin rằng, với sự vào cuộc đồng bộ của các địa phương và doanh nghiệp, QT55 sẽ tiếp tục được nhân rộng, góp phần nâng cao giá trị sản xuất ngô và khẳng định vai trò của KH&CN trong phát triển nông nghiệp bền vững”.
Bài và ảnh: Trường Giang