Ngọt bùi đại ngàn - mặn mòi biển cả

Ngọt bùi đại ngàn - mặn mòi biển cả
3 giờ trướcBài gốc
Các loại hải sản miền biển Lâm Đồng hôm nay
1. “Ai về nhắn với nậu nguồn/ Mít non gởi xuống, cá chuồn gởi lên”. Câu ca dao ấy vốn nằm lòng với người dân miền Trung, nơi tồn tại hai từ “nậu nguồn”, có từ thời bắt đầu hình thành vùng đất Đàng Trong. Nậu, phường, man trước hết là đơn vị hành chính nhỏ hơn thôn. Về sau từ “nậu” được người lao động ghép lại thành nghĩa chỉ về nhóm người cùng nghề nghiệp: nậu nguồn là nhóm người khai thác lâm sản; nậu rớ (đánh bắt tôm cá bằng cái rớ); nậu nại (làm muối), nậu rỗi (buôn bán cá),… Câu ca dao trên là lời nhắn gửi của người miền xuôi với người miền ngược, thông qua việc trao đổi hàng hóa nhưng sâu xa ấy là tình người là ân nghĩa…
Câu ca “mít non”, “cá chuồn” tồn tại từ khoảng cuối thế kỷ 18. Bây giờ càng ý vị, khi dải đất các tỉnh duyên hải miền Trung và Tây Nguyên được sáp nhập hình thành những tỉnh mới. Núi càng liền núi, sông càng liền sông. Ranh giới hành chính vốn chỉ là tương đối, nay hình thái về tự nhiên lại càng không hề có “ranh giới”.
2. “Ai về nhắn với nậu nguồn”, có vùng đọc là “bạn nguồn”, hình thành về sau này. Ở câu hai, “mít non” hay là “măng le” (gởi xuống)? Có người lập luận, “măng le” phù hợp hơn vì miền núi mới có sản vật này còn “mít non” thì miền nào cũng có. Cũng đúng đấy chứ. Nhưng tôi cho rằng phải là “mít non gởi xuống”, vì chỉ vùng miền ngược mới có nhiều mít để dùng khi còn non chứ dưới xuôi thì chắc chả mấy nhà dám dùng, chỉ chờ khi quả mít chín mới hạ xuống mỗi người thưởng thức được mấy múi, xuýt xoa lúc là hết liền à.
Mít non và cá chuồn là hai nguyên liệu kết hợp với nhau cùng các thức gia vị và sự khéo léo của người nội trợ món canh hoặc món kho rim trở thành đặc biệt ngon bởi tính kết hợp hòa quyện. Xứ miền Trung, khi những tuần trăng đầu mùa hạ, ở miền núi no nắng, no gió, cây mít vào chính vụ cũng là thời điểm nơi miền xuôi cá chuồn rộ biển. Đây là lúc món ăn mít non - cá chuồn thân thuộc, dân dã nơi vùng quê trở thành thường nhật. Nó, để rồi nhung nhớ, để thành ký ức, thấm đẫm yêu thương của nguồn cội hai vùng đất. Nó, đã đi vào ca dao, trở thành văn hóa và tri thức dân gian: “Mít non nấu với cá chuồn/Chồng chan vợ húp khen ngon rần rần”.
3. “Mít non” và “cá chuồn” không chỉ là món ăn đặc biệt mà hơn thế, nó là biểu trưng của nghĩa tình kết nối giữa con người vùng sơn cước với miền duyên hải. Đó là sự giao hòa của hai vùng đất đai, khí trời, của tâm hồn xứ sở và đó là câu chuyện của mối lương duyên và chung thủy. Lắng với câu chuyện của “mít non” - “cá chuồn” giờ ta được quyền thích thú nghĩ đến sự kết hợp từ những sản phẩm của vùng miền non cao và vùng miền biển cả. Cà phê, hồ tiêu, ca cao, mắc ca, sầu riêng, mít, bơ, chanh dây, atisô, rau, củ, măng, nấm rừng… và tôm, mực, cua, ghẹ, ốc sò, các loại cá, thanh long,… Những dòng chảy thương phẩm không chỉ mang theo giá trị kinh tế, mà còn mang theo hương vị, tập quán và tinh thần của mỗi vùng đất thân thương. Mâm cơm hôm nay đủ đầy chất bổ, vị ngọt, hương thơm của cha rừng mẹ biển ban tặng. Một nồi lẩu đều mang hồn cốt và tổng hòa của sự giao thoa đặc biệt, thú vị và thi vị. Ở đó, thực khách cảm nhận được chất ngon tươi, bổ béo của hải sản, vị mặn mòi của biển khơi quyện hòa cùng đa vị đa sắc từ ngọt, cay, đắng, chát và nõn nà rau, củ của miền rừng. Âm dương hài hòa, nóng lạnh cân bằng. Mỗi món ăn như kể câu chuyện về hành trình của đất, của nước và của kẻ rừng, kẻ bể. Sự kết tinh về ẩm thực thật đỗi tự nhiên, làm nên chính nhịp sống của cư dân hai vùng đất, định vị một phong cách ẩm thực hiện đại mà vẫn giữ nét tinh tế, trong lành. Trong thẳm sâu tâm thức, mâm cơm hôm nay vừa có rì rào hơi thở đại dương, vừa có long lanh sương đồi, khoáng hoạt gió đại ngàn, có nắng hừng hực mênh mang cát trắng và nắng lạnh, dịu êm dưới vòm trời mướt mắt màu lục diệp… Cần mẫn, chịu thương chịu khó và trầm tĩnh, bao dung là những phẩm giá tạo nên bản sắc mộc mạc mà bền bỉ. Mỗi sản vật mang theo ký ức của đất đai, khí hậu và con người.
4. Không gian Tây Nguyên - duyên hải được mở rộng, đất nước đang mở thêm những “mạch máu” mới. Những “mạch máu” ấy không chỉ lưu thông hàng hóa, mà còn dẫn truyền và quyện hòa về văn hóa, về ký ức và sự trù phú về bản sắc. Từ rừng xuống biển, từ biển lên cao nguyên, sự giao thương sơn thủy hữu tình ấy làm nên một bức tranh phong phú, đa sắc thái trong thể thống nhất vùng cao - vùng xuôi, vùng rừng - vùng biển. Từ những âm vang riêng nay đang trở thành bản hòa tấu đa thanh, đang dần tạo nên một không gian phát triển liên vùng, nơi kinh tế đi cùng văn hóa, sản vật gắn với căn cốt con người.
Mâm cỗ hôm nay là sự tổng hòa các sản vật của rừng và biển
Cùng với hàng hóa, văn hóa ẩm thực và tập quán sinh hoạt hội nhập và lan tỏa, làm giàu cho nhau, bổ sung, nâng đỡ cho nhau, sẽ làm mờ đi những lát cắt về sinh thái đơn lẻ. Văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể của đại ngàn và của biển cả trở thành dòng chảy lớn, dòng chảy văn hóa ẩm thực. Sự giao lưu hàng hóa vừa tạo động lực kinh tế vừa là nền tảng giao lưu văn hóa, làm giàu bản sắc ẩm thực vùng Tây Nguyên - duyên hải. Sản vật của rừng, của biển giao thương trở thành sự đối thoại để kết hợp giữa các không gian sống. Sự kết duyên của trầm lắng, chắc bền từ rừng và phóng khoáng, mặn mòi từ biển. Giữa hai không gian ấy, con người là nhịp cầu với vai trò gìn giữ bản sắc và sáng tạo ra những giá trị mới. Khi mỗi món ăn, mỗi đặc sản được trân trọng và kể câu chuyện của mình, đó cũng là lúc văn hóa trở thành động lực mềm cho phát triển kinh tế. Không gian liên kết kinh tế - văn hóa, giàu tiềm năng, trao truyền và lan tỏa. Sẽ là định hình những niềm tin vào một tương lai phát triển hài hòa, bền vững, ở đó mỗi vùng đất đều tìm thấy mình trong sự đa dạng chung của Tổ quốc.
5. Các tỉnh vùng Tây Nguyên - duyên hải phía Tây tựa vào dãy núi Trường Sơn phía Đông trải dài ra biển Đông. Hình dung về thế đất, tọa sơn hướng thủy, lưng tựa núi cao, mặt hướng biển rộng, để vươn xa, không chỉ là biểu tượng mà cả ý nghĩa thực. Càng không thể “xa rừng nhạt biển”, mà là một vùng địa - văn hóa, địa - kinh tế với tiềm năng nội sinh trù phú đang được đánh thức …
Điều đặc biệt là bốn tỉnh đều giáp với biên giới một hoặc hai quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á, đó là Campuchia và Lào. Tôi chợt nhớ đến một nhận định của Giáo sư Trần Quốc Vượng khi liên hệ đến bốn tỉnh vùng Tây Nguyên - duyên hải. Giáo sư viết: “Việt Nam nằm trong bán đảo Đông Dương (Indo China), chiếm trọn phần Đông bán đảo này nên tính chất bán đảo lại càng nổi bật. Về mặt địa - văn hóa, bản sắc văn hóa Việt là bản sắc bán đảo, tiếp nhận và hội nhập (integration) cả các ảnh hưởng lục địa lẫn các ảnh hưởng hải đảo”. Vâng, tính chất bán đảo thể hiện rõ nét tại bốn tỉnh mới: Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk và Lâm Đồng, đó cũng là tính chất địa - văn hóa Việt Nam.
Sự giao thoa văn hóa trong bối cảnh thời đại nào cũng là một quy luật tất yếu. Nhưng xuyên thấm đến mức sâu sắc, tạo thành sự chuyển hóa nhuần nhị trong tổng hòa các mối quan hệ chính trị, văn hóa, kinh tế, lịch sử và đời sống cộng đồng để tạo nên những cột mốc giá trị vững bền thì không phải vùng đất nào cũng may mắn có được.
Phan Minh Đạo .
Nguồn Lâm Đồng : https://baolamdong.vn/ngot-bui-dai-ngan-man-moi-bien-ca-434125.html