Năm 1946, kỹ sư Võ Quý Huân là một trong bốn trí thức Việt kiều tại Pháp được Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn cùng trở về nước phục vụ kháng chiến, kiến quốc. Từ những ngày đầu ở chiến khu, ông đã tham gia xây dựng lò cao sản xuất gang đầu tiên, nghiên cứu chế tạo các mẻ thép phục vụ quân giới, đồng thời đặt nền móng cho công tác đào tạo cán bộ kỹ thuật ngành đúc - luyện kim và công nghiệp Việt Nam sau này.
Gác hạnh phúc riêng, bỏ cuộc sống đủ đầy, theo Bác về phụng sự Tổ quốc
Kỹ sư Võ Quý Huân sinh năm 1912 trong một gia đình nhà giáo tại huyện Thanh Chương. Từ khi còn trẻ, ông đã sớm tham gia phong trào yêu nước, đấu tranh đòi quyền lợi cho nhân dân dưới ách thực dân.
Những năm cuối thập niên 1930, ông sang Pháp học tập, tích cực tham gia các hoạt động chính trị của phong trào tiến bộ và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Pháp năm 1939. Trong thời gian ở Pháp, kỹ sư Võ Quý Huân hoàn thành nhiều chương trình đào tạo chuyên sâu về cơ - điện, luyện kim, kỹ nghệ và theo học tiến sĩ tại Đại học Sorbonne. Ông cũng tham gia hoạt động trong Hội Pháp - Việt hữu nghị, vận động kiều bào hướng về quê hương, ủng hộ nền độc lập của Việt Nam.
Kỹ sư Võ Quý Huân (ngoài cùng bên phải) đi cùng với đoàn của Hồ Chủ tịch tại Pháp năm 1946. Ảnh: Tư liệu.
Mùa hè năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp trong chuyến thăm hữu nghị chính thức và chỉ đạo Đoàn đại biểu Việt Nam tham dự Hội nghị Fontainebleau. Khi ấy, kỹ sư Võ Quý Huân với cương vị Phó Chủ tịch Hội Pháp - Việt hữu nghị đã trực tiếp tham gia đón tiếp, hỗ trợ đoàn Việt Nam và vận động sự ủng hộ của kiều bào đối với cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc.
Trong thời gian Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Pháp, kỹ sư Võ Quý Huân còn tổ chức quay phim, chụp ảnh nhiều hoạt động của Người và đoàn đàm phán Việt Nam, lưu giữ những tư liệu quý cho lịch sử cách mạng nước nhà.
Tuy nhiên, do lập trường thực dân của giới cầm quyền Pháp, Hội nghị Fontainebleau không đạt kết quả như mong muốn. Trước khi trở về nước chuẩn bị cho cuộc kháng chiến trường kỳ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gặp gỡ nhiều trí thức Việt kiều yêu nước tại Paris và tha thiết kêu gọi họ trở về phụng sự Tổ quốc.
Người ân cần nói: “Đất nước chuẩn bị kháng chiến, rất cần những người có học và tâm huyết như các chú. Bác sắp về nước. Các chú chuẩn bị để vài ngày nữa chúng ta lên đường. Các chú đã sẵn sàng chưa?”.
Theo yêu cầu của cuộc kháng chiến sắp bùng nổ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn một số trí thức tiêu biểu cùng trở về nước, trong đó có kỹ sư Phạm Quang Lễ (sau này là GS.VS Trần Đại Nghĩa), bác sĩ Trần Hữu Tước, kỹ sư Võ Quý Huân và kỹ sư Võ Đình Quỳnh. Họ đều là những người đã có tên tuổi, sự nghiệp ổn định và cuộc sống đủ đầy tại Pháp.
Đối với kỹ sư Võ Quý Huân, quyết định trở về là một lựa chọn đầy day dứt. Khi ấy, ông có công việc tốt, tương lai rộng mở cùng mái ấm nhỏ với người vợ trẻ và cô con gái mới tròn hai tuổi nơi đất khách. Trở về Việt Nam đồng nghĩa với việc chấp nhận gian khổ, hiểm nguy và cả sự chia ly chưa biết ngày gặp lại.
Nhưng chính nhân cách, uy tín và tầm nhìn lớn lao của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tạo nên sức cảm hóa đặc biệt đối với người trí thức yêu nước ấy. Sau nhiều đêm trăn trở, kỹ sư Võ Quý Huân quyết định gác lại hạnh phúc riêng để lên đường theo tiếng gọi của Tổ quốc.
Dường như thấu hiểu nỗi lòng của ông, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng động viên: “Về cùng với Bác để nghiên cứu một số vấn đề kiến thiết đất nước trong một thời gian mấy tháng rồi trở sang Pháp. Sau đó sẽ quyết định việc về nước hẳn hay tiếp tục công tác ở Pháp...”.
Nhắc về người đồng chí của mình, GS.VS Trần Đại Nghĩa từng viết trong hồi ký: “Anh em chúng tôi rất quý mến và cảm phục Võ Quý Huân. Chắc rằng anh đã trải qua những giờ phút đắn đo, cân nhắc khi phải xa vợ trẻ và con thơ, thật không dễ. Và anh đã về tham gia kháng chiến theo tiếng gọi của Tổ quốc. Con tim anh nặng tình non nước”.
Đúc bức tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh từ mẻ gang lịch sử
Trở về Tổ quốc trong không khí sục sôi của những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp, kỹ sư Võ Quý Huân được đồng chí Phạm Văn Đồng (lúc bấy giờ là Bộ trưởng Bộ Kinh tế) phân công giữ chức vụ Chánh Văn phòng Bộ. Khi Toàn quốc kháng chiến bùng nổ ngày 19/12/1946, ông trực tiếp chỉ huy công tác sơ tán hai Nhà máy Xe lửa Tràng Thi và Điện Bến Thủy lên vùng rừng núi phía Tây. Tại đây, các Nhà máy Kinh tế 1, 2, 3 cùng trường Cán bộ kỹ thuật Trung Bộ lần lượt được thành lập để duy trì sản xuất phục vụ tiền tuyến.
Kỹ sư Võ Quý Huân và mẫu lò cao, cùng tượng mẫu bán thân Chủ tịch Hồ Chí Minh, chuẩn bị trưng bày tại triển lãm năm 1949. Ảnh tư liệu. Nguồn: Nhân Dân.
Tại Nhà máy Kinh tế 3 (sau này đổi tên là Nhà máy Kim khí kháng chiến), kỹ sư Võ Quý Huân với vai trò Giám đốc kiêm "tổng công trình sư" đã trực tiếp thiết kế và xây dựng hệ thống lò cao sản xuất gang đầu tiên. Tháng 4/1947, ông được bổ nhiệm làm Giám đốc Sở Khoáng chất - Kỹ nghệ Trung Bộ, kiêm Tổng Thư ký Hội đồng sản xuất Kỹ nghệ miền Nam và Liên khu IV.
Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của các đồng chí lãnh đạo cấp cao như Hoàng Quốc Việt, Nguyễn Chí Thanh, Lê Viết Lượng, cùng sự hỗ trợ của Cục Quân giới, kỹ sư Võ Quý Huân đã bắt tay vào xây dựng nền móng cho ngành đúc, luyện kim độc lập. Mục tiêu cốt lõi lúc đó là phải sản xuất được gang ở quy mô công nghiệp nhằm chế tạo mìn, lựu đạn phục vụ chiến trường, đồng thời đúc nông cụ phục vụ sản xuất.
Sự cống hiến hết mình của ông đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh ghi nhận và động viên. Trong bức thư gửi bác sĩ Trần Hữu Tước ngày 20/9/1947 từ chiến khu Việt Bắc, Người viết: "Mấy anh em cùng về một lần với chúng ta, chú Nghĩa và chú Huân làm việc rất hăng hái và đắc lực, đã gắng sức rất nhiều trong công việc kháng chiến”.
Sau chuỗi ngày nỗ lực vượt mọi thiếu thốn tại rừng Cầu Đất (huyện Con Cuông, miền Tây tỉnh Nghệ An), ngày 15/11/1948, lò cao thí nghiệm đã cho ra đời mẻ gang đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sự kiện này là một mốc son ý nghĩa của nền công nghiệp quốc phòng và kinh tế kháng chiến của ta.
Trước niềm vui có mẻ gang đầu tiên, công nhân Nhà máy Kim khí kháng chiến tha thiết đề nghị được dùng những thỏi gang đầu tiên để đúc tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh như một cách bày tỏ lòng biết ơn Người.
Từ ký ức những ngày sống và làm việc cùng Bác tại Pháp, kỹ sư Võ Quý Huân đã tự thiết kế khuôn tượng bán thân Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ba công nhân chưa từng qua trường lớp kỹ thuật đúc đã miệt mài thực hiện suốt 5 ngày để hoàn thành bức tượng.
Bức tượng sau đó được chuyển về Sở Khoáng chất - Kỹ nghệ Trung Bộ, rồi đầu năm 1949 được đưa đi triển lãm tại Liên khu IV trước khi chuyển ra Việt Bắc.
Từ Trưởng ban Kỹ thuật Cục Quân giới tới Hiệu trưởng Trường Kỹ nghệ thực hành
Năm 1950, theo yêu cầu của cuộc kháng chiến, kỹ sư Võ Quý Huân được điều động lên Việt Bắc giữ chức Trưởng ban Kỹ thuật của Cục Quân giới.
Mang theo vốn tri thức chuyên sâu cùng nhiều tài liệu kỹ thuật từ Pháp, ông cùng đồng nghiệp ở Viện Nghiên cứu quân giới giải quyết hàng loạt khó khăn trong việc chế tạo lò điện hồ quang để nấu luyện hợp kim đồng, kẽm, nhôm và gang xám.
Kỹ sư Võ Quý Huân. Ảnh tư liệu. Nguồn: Nhân Dân.
Cuối năm 1950, mẻ thép đầu tiên luyện trong lò hồ quang thí nghiệm tại Nà Làng, Tuyên Quang đã thành công. Từ kết quả này, cuối năm 1951, Cục Quân giới quyết định sản xuất gang xám và chuyển giao công nghệ cho lò cao Như Xuân, Thanh Hóa.
Trong hai năm 1951-1953, lò gang Như Xuân sản xuất gần 400 tấn gang phục vụ các xưởng quân giới chế tạo vũ khí và sản xuất nông cụ. Đến năm 1954, lò cao kháng chiến có thể sản xuất liên tục từ 4-5 tấn gang mỗi ngày. Trong gần ba năm vừa xây dựng vừa sản xuất, lò cao Như Xuân đã cung cấp gần 500 tấn gang cho các xí nghiệp quân đội.
Từ những mẻ gang và thép đầu tiên ấy, các loại lựu đạn, mìn và nhiều vũ khí do GS.VS Trần Đại Nghĩa thiết kế đã được sản xuất phục vụ kháng chiến chống Pháp.
Sau hòa bình năm 1954, kỹ sư Võ Quý Huân trở về Hà Nội và đầu năm 1955 được giao trọng trách Hiệu trưởng Trường Kỹ nghệ thực hành – tiền thân của Đại học Công nghiệp Hà Nội ngày nay.
Tháng 2/1955, khóa trung cấp kỹ thuật đầu tiên được khai giảng. Trong điều kiện còn nhiều khó khăn, ông vừa trực tiếp giảng dạy, vừa tranh thủ sự hỗ trợ của chuyên gia trong và ngoài nước để xây dựng bộ giáo trình đào tạo trung cấp kỹ thuật đầu tiên ở Việt Nam.
Từ ngôi trường này, các thế hệ học trò xuất sắc của ông như Hà Học Trạc, Hoàng Bình, Nguyễn Đình Nam, Nguyễn Hựu, Nguyễn Thái Đồng, Trần Lum, Lê Ba, Vũ Đình Hoành... đã trưởng thành và trở thành những cán bộ nòng cốt, gánh vác trọng trách phát triển ngành đúc - luyện kim và nền công nghiệp Việt Nam trong giai đoạn mới.
Tháng 9/1967, kỹ sư Võ Quý Huân qua đời vì bạo bệnh khi mới 55 tuổi, để lại niềm tiếc thương sâu sắc đối với gia đình, đồng nghiệp và nhiều thế hệ cán bộ ngành đúc - luyện kim Việt Nam.
Cuộc đời Võ Quý Huân là biểu tượng đẹp của lớp trí thức Việt Nam yêu nước đã gác lại vinh hoa, hạnh phúc riêng để trở về phụng sự Tổ quốc trong những năm tháng gian khó nhất. Hành trình ấy cũng cho thấy tầm nhìn và sự sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc trọng dụng nhân tài, quy tụ trí thức, biến lòng yêu nước và tri thức khoa học thành sức mạnh dựng xây và bảo vệ đất nước.
Mai Nguyễn