Người lính và huyền thoại về những thiên tình sử

Người lính và huyền thoại về những thiên tình sử
12 giờ trướcBài gốc
Dòng hồi ức của người lính đặc công
Lê Bá Cảnh sinh năm 1941, tại Lệ Thủy, Quảng Bình (nay là Quảng Trị). Ông nhập ngũ tháng 10/1963 khi đang là giáo sinh tại Trường Sư phạm Đồng Hới, học sĩ quan Lục quân. Ông ra trường tháng 10/1965, hàm Thiếu úy, chức vụ Trung đội trưởng Tiểu đoàn 53, Sư đoàn 324, phòng thủ biên giới Việt Lào.
Từ tháng 5/1966 đến tháng 7/1969, ông làm Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 53, trực tiếp chỉ huy đánh các cứ điểm Cồn Tiên, Dốc Miếu, Khe Sanh, Cam Lộ, Đầu Mấu… Tháng 7/1969 ông được Quân khu cử đi học tại Trường Đặc công của Bộ Tư Lệnh 305. Khi ra trường giữ chức vụ Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 16 đặc công cơ động, hành quân từ Sơn Tây vào bổ sung cho Quân khu 5.
Nhà thơ Lê Bá Cảnh bên một số tác phẩm điêu khắc.
Theo dòng hồi ức ông nhớ lại. Khi đó xe đưa quân đến Bến Hải, giới tuyến ngăn hai miền Nam Bắc, thì cả tiểu đoàn xuống hành quân đi bộ, vượt núi rừng Trường Sơn gần tháng trời mới vào đến Trà My, Quảng Ngãi. Để thêm vững bước trên hành trình gian khổ, ông sáng tác thơ, vừa ghi chép nhật ký cho mình vừa để động viên chiến sĩ. Và những vần thơ ấy đã trở thành món ăn tinh thần cho cả tiểu đoàn trong chặng đường cam go ác liệt. "Ba lô bám chặt trên lưng/ Vẹt mòn đá núi bàn chân dạn dày/ Vai mang súng, tay bám cây/ Quân đi bạt gió lung lay núi ngàn"…
Tại Quân khu 5, Lê Bá Cảnh làm Trợ lý phòng Đặc công. Năm 1970 ông được bổ nhiệm làm Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn Đặc công 403, chỉ huy đánh chi khu Thượng Đức, quận lỵ Ba Tơ, rồi chỉ huy Tiểu đoàn Đặc Công 405 đánh kho đạn Đèo Son, kho xăng Ghềnh Ráng, kho xăng Phú Hòa. Năm 1973 chỉ huy tiểu đoàn Đặc công 406 đánh quận lỵ Tam Quan, Bồng Sơn, Thiết Đính…
Người lính già với mái tóc trắng như cước nói về tháng ngày khói lửa đã qua bằng chất giọng hào sảng. Ông kể về trận đánh kho đạn Đèo Son và những trận đánh khác, trận nào cũng khốc liệt, có hy sinh có mất mát, nhưng ai cũng hừng hực khí thế, đồng lòng quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh…
Khi đất nước thống nhất, Lê Bá Cảnh được điều ra Bắc với quân hàm Đại úy, làm Trợ lý tác chiến Sư đoàn 316, Quân khu 4. Tháng 9/1976 ông làm Tham mưu trưởng Trung đoàn 148, Sư đoàn 316, được Quân khu cử đi học ở Học viện Lục quân. Sau khi tốt nghiệp ông ở lại làm cán bộ nghiên cứu của Học viện và sinh sống tại cao nguyên Đà Lạt. Đến tháng 1/1990 vì lý do cá nhân, ông nghỉ hưu sớm với quân hàm Đại tá.
Huyền thoại về những thiên tình sử
Lê Bá Cảnh làm thơ từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Thơ ca đến với ông tự nhiên như hơi thở. Ông tâm sự, có lẽ do ban đầu ông học ngành Sư phạm, lại yêu văn chương từ bé nên chữ nghĩa cứ ngấm dần vào người rồi xuất thành thơ. Ông kể, lúc hành quân vượt Trường Sơn gian khổ là vậy mà ông vẫn mang một ba lô sách vở bên mình, để những khi ngồi nghỉ, ông lại giở ra đọc.
Đến nay Lê Bá Cảnh đã phát hành 16 tập thơ, với số lượng 18.500 bản, gồm nhiều chủ đề, như "Giọt mưa xứ lạnh", "Màu hoa đất Việt", "Tiếng chim từ quy", "Không thể chờ xuân"… Nhưng có lẽ dấu ấn đậm nét mà nhà thơ Lê Bá Cảnh để lại trong lòng độc giả là huyền thoại về những danh lam thắng cảnh, từ vùng đất Lâm Đồng nơi ông sinh sống đến người "láng giềng" Khánh Hòa, rồi Quảng Bình quê hương ông.
Bằng trí tưởng tượng phong phú cùng tài năng ngôn ngữ của mình, nhà thơ đã xây dựng những thiên tình sử gắn với các địa danh, thổi hồn vào sông núi để mỗi hòn đá, dòng sông, hang động, cỏ cây đều lung linh sắc màu huyền ảo.
Một số tập thơ đã xuất bản của nhà thơ Lê Bá Cảnh.
Ông đã sáng tác 7 tập truyện thơ gồm, "Huyền thoại thác Prenn", "Huyền thoại thác Hang Cọp", "Huyền thoại hồ Than Thở", "Huyền thoại Phong Nha", "Huyền thoại thác Yang Bay", "Huyền thoại Đảo Khỉ", "Huyền thoại suối Hoa lan". Trong đó đồ sộ nhất là "Huyền thoại thác Hoa Lan" với 18 chương, 728 câu song thất lục bát.
Tốn nhiều thời gian nhất là "Huyền thoại thác Prenn" dài 632 câu lục bát, được ông sáng tác trong vòng một năm. Những truyện thơ còn lại, đều dài từ 300 đến 500 câu, thể lục bát hoặc song thất lục bát. Những vần thơ ấy, được trích đề trên các danh lam thắng cảnh, riêng "Huyền thoại thác Yang Bay" được đầu tư và dàn dựng công phu thành vở diễn phục vụ du khách.
Với "Huyền thoại thác Hang Cọp", giáo sư Lê Chí Dũng, Chủ nhiệm khoa Ngôn ngữ nhân văn Trường Đại học Đà Lạt, nhận xét: "là tiếng gầm thét từ ngàn xưa vọng về từ thinh không vắng lặng".
Ngỡ như
Tiếng hú đại ngàn
Hùm thiêng
Từ thuở hồng hoang vọng về
"Huyền thoại Phong Nha", nhà thơ Mưu Lê cảm nhận, "Dù chỉ là truyền thuyết, là huyền thoại lưu truyền trong dân gian, nhưng huyền thoại nào cũng đầy tính nhân văn sâu sắc và nhân bản của dân tộc Việt" .
Món quà vô giá, nhiệm mầu
Thủy cung, tiên giới ở đâu sánh bằng
Phong Nha, tạo hóa - quyền năng
Đệ nhất động, chốn vĩnh hằng - trường sinh
Diễm phúc thay, đất Quảng Bình
Gươm thần, động thánh vẹn tình muôn xuân
Để dựng nên những huyền thoại, có nơi ông dựa vào câu chuyện hoặc tên gọi lưu truyền trong dân gian như "Huyền thoại Phong Nha", "Huyền thoại thác Yang Bay", hoặc dựa vào yếu tố lịch sử như cuộc xâm lược của người Chăm lên đất Đà Lạt trong "Huyền thoại thác Prenn". Có những huyền thoại hoàn toàn dựa vào trí tưởng tượng và sự sáng tạo của nhà thơ như, "Huyền thoại đảo khỉ", "Huyền thoại suối Hoa Lan".
Bảy tập truyện thơ là bảy câu chuyện gắn với tình yêu nam nữ, là những nhân vật trung tâm của truyện, nhưng cốt truyện và tình tiết, diễn biến đều hoàn toàn khác biệt, không truyện nào trùng lặp, thậm chí không câu nào lặp lại trong hơn ba ngàn câu thơ.
Nhà thơ Phạm Vũ nhận xét về ông: "Đề tài về sự tích, huyền thoại muôn màu muôn vẻ, đáng cho chúng ta dành trọn cuộc đời để đi, để tìm hiểu và viết. Lê Bá Cảnh đang cần mẫn cày xới trên mảnh đất màu mỡ của huyền thoại và sự tích đã để lại nhiều dấu ấn đáng trân trọng" .
Ông già cao nguyên
Lê Bá Cảnh tự nhận mình là một lão nông, là ông già cao nguyên. Mảnh vườn của gia đình do chính tay ông vỡ vạc, biến đất hoang thành vườn tược xanh tươi. Hiện ông đã ngoài bát tuần, chân yếu tay run, vậy mà hàng ngày ông vẫn dành trọn buổi sáng để làm vườn, sống cùng thiên nhiên cây cỏ. Nhờ làm vườn, ông thu nhặt thân cây, rễ cây tưởng chừng bỏ đi, bằng óc sáng tạo và bàn tay tài hoa biến chúng thành những bức tượng điêu khắc gỗ sống động.
Bước vào nơi ông sống, chúng tôi như bước vào một bảo tàng tượng, đặt từ ngoài vườn đến từng góc nhà. Mỗi bức tượng là một câu chuyện kể về lịch sử, về nhân tình thế thái... Tác phẩm điêu khắc của ông từng tham dự các cuộc triển lãm của tỉnh Lâm Đồng.
Ông giới thiệu với chúng tôi một số tác phẩm mà ông tâm đắc. Đó là "Bà Triệu cùng voi ra trận", "Chất độc da cam - nỗi đau nhân loại", "Tiến lên", "Bến đợi"…
Những tác phẩm thơ, điêu khắc cùng những câu chuyện thời chiến đấu của ông cứ cuốn lấy chúng tôi. Đến khi cảm nhận cơn gió lạnh ùa vào, tôi dõi mắt ra ngoài khung cửa mới hay nắng đã tắt, sương đã giăng trắng núi đồi. Nhà thơ tiễn chúng tôi ra về với nụ cười hào sảng. Nụ cười của một người đã đi qua những thăng trầm, sướng khổ. Nụ cười mãn nguyện vì đã dành trọn cuộc đời cống hiến cho đất nước, cho quê hương.
Hoàng Ngọc Thanh
Nguồn VNCA : https://vnca.cand.com.vn/ly-luan/nguoi-linh-va-huyen-thoai-ve-nhung-thien-tinh-su-i793643/