Năm nay đã bước sang tuổi 77, nhưng trí nhớ của đồng chí Đỗ Đăng Khuây vẫn khiến tôi ngỡ ngàng. Từng mốc thời gian trong cuộc đời binh nghiệp của mình, ông đều nhớ rành rọt như vừa mới hôm qua.
Sinh năm 1949 tại quê lúa Thái Bình (nay thuộc tỉnh Hưng Yên), người lính trẻ nhập ngũ tháng 8/1967, hành quân vào Nam chiến đấu từ những năm 1968-1969, tham gia nhiều chiến trường ác liệt rồi tiếp tục sang Lào chiến đấu trong Chiến dịch Lam Sơn 719 năm 1971. Cuối năm ấy, ông bị thương. Sau thời gian điều trị tại các bệnh viện và trung tâm điều dưỡng, tháng 8/1975 ông về Trung tâm Điều dưỡng Thương binh Thuận Thành. Và từ đó đến nay, hơn 50 năm cuộc đời ông gắn liền với nơi này.
Những năm gần đây, lãnh đạo Đảng, Nhà nước, chính quyền và nhân dân địa phương, các tổ chức kinh tế - xã hội, cá nhân đã luôn quan tâm thăm hỏi, động viên, tặng quà, giúp đỡ về vật chất, tinh thần, góp phần giảm bớt những khó khăn trong cuộc sống, giảm đi phần nào những đau đớn của vết thương, giúp thương, bệnh binh nặng tiếp tục giữ gìn và phát huy bản chất "Bộ đội Cụ Hồ" và thực hiện tốt lời Bác dạy "Thương binh tàn nhưng không phế".
Đồng chí Khuây kể cho tôi nghe rằng "ngày ấy ở quê nghèo lắm". Cuộc sống cứ thế mà quanh quẩn với ruộng đồng, cày bừa và những lũy tre làng. Khi nhà trường phát động thanh niên đăng ký nhập ngũ, ông lập tức làm đơn xung phong. Một phần vì chiến tranh đã tới, nhưng cũng có phần vì sự tò mò của tuổi trẻ. "Suốt ngày quanh quẩn ở lũy tre làng, nghe được đi xa là thích lắm rồi", ông cười.
Điều đặc biệt là khi nhắc về quyết định cầm súng năm mười bảy tuổi, ông không kể bằng giọng điệu bi tráng. Trái lại, ký ức hiện về với sự hồn nhiên rất riêng của thế hệ thanh niên thời chiến.
Thậm chí, đồng chí còn giấu cả mẹ chuyện đăng ký đi bộ đội. Gia đình đã có một người con trai nhập ngũ trước đó, nên ông biết nếu báo sớm, mẹ sẽ không đồng ý. Chỉ đến khi giấy gọi chính thức gửi về, bà mới biết cậu con trai thứ hai cũng đã quyết tâm lên đường.
Sau khi trúng tuyển, người lính trẻ Đỗ Đăng Khuây được đưa lên Lục Ngạn, Bắc Giang (nay thuộc tỉnh Bắc Ninh) huấn luyện. Hai tháng học điều lệnh, tác phong quân đội và giáo dục chính trị rồi lập tức lên đường vào chiến trường. Trong ký ức của ông, điều đáng nhớ nhất không phải là những bài học quân sự mà là tâm thế của những người lính trẻ ngày ấy.
Họ xác định rất rõ rằng chiến trường là nơi đối diện với cái chết. "Chúng tôi bảo nhau, vào đấy chỉ có chết thôi, còn chuyện trở về thì ít lắm", ông kể. Thế nhưng chính vì đã xác định trước như vậy nên họ lại sống rất vô tư. Không ai nghĩ nhiều cho bản thân, cũng không có thời gian để sợ hãi.
Di chứng chiến tranh trở thành những vết hằn dai dẳng, âm thầm đeo bám người lính kể cả khi tiếng súng đã lùi xa hàng chục năm.
Những công việc tưởng chừng đơn giản như ăn uống, vệ sinh cá nhân hay di chuyển cũng cần đến sự hỗ trợ của các thiết bị chuyên dụng.
Có những người lính đã dành hơn nửa cuộc đời gắn bó với nơi đây, xem Trung tâm Điều dưỡng Thương binh Thuận Thành như ngôi nhà thứ hai của mình.
Con đường vào chiến trường gian khổ hơn nhiều so với những gì thế hệ hôm nay có thể hình dung. Từ Bắc Giang vào tới Quảng Trị, đơn vị của ông đi bộ gần sáu tháng trời. Cứ ba ngày hành quân lại ba ngày nghỉ. Trên vai lúc nào cũng hơn hai mươi kilôgam gồm ba lô, quần áo, lương thực, nước uống, súng và đạn.
Những chàng trai vừa rời ghế nhà trường, tuổi đời chỉ mười bảy, mười tám, cứ thế lặng lẽ nối nhau trên dãy Trường Sơn. Ông nhớ rất nhiều đồng đội cùng trang lứa. Có người vừa học phổ thông xong. Có người mới mười tám tuổi. Có người chỉ tham gia một hoặc hai trận đánh rồi mãi mãi nằm lại. Khi nhắc đến Thành cổ Quảng Trị hay những trận đánh ác liệt của chiến tranh, giọng ông chùng xuống. "Người chết nhiều lắm. Những gì các cháu thấy trên phim vẫn chưa thể hết được đâu."
Mang trên mình tỷ lệ thương tật cao, đồng chí Đỗ Đăng Khuây là một trong những trường hợp thương binh nặng đang được Trung tâm Điều dưỡng Thương binh Thuận Thành chăm sóc và theo dõi thường xuyên. Dù hoàn cảnh khó khăn, người cựu binh năm nào vẫn giữ nụ cười trên môi.
Năm 1971, trong những trận đánh tại chiến trường Lào thuộc Chiến dịch Lam Sơn 719, ông bị thương nặng. Vết thương ấy đã thay đổi hoàn toàn cuộc đời người lính trẻ 23 tuổi. Những ngày đầu điều trị là khoảng thời gian khó khăn nhất mà ông từng trải qua. Chung quanh ông là những thương binh cụt chân, cụt tay, tổn thương cột sống, nằm kín các trạm phẫu thuật tiền phương. Bản thân ông cũng được băng kín cơ thể.
Điều khiến ông nhớ nhất lại không phải cơn đau mà là cảm giác đói. Sữa bột được để đầy trên bàn nhưng hai tay không thể cử động, không thể tự xúc ăn. "Đói lắm cháu ạ, mà không làm cách nào ăn được." Cuối cùng, những người lính phải bón cho nhau từng thìa sữa, từng thìa cháo. Trong hoàn cảnh ngặt nghèo nhất, họ tiếp tục sống nhờ tình đồng đội.
Ông thừa nhận đã từng có lúc bi quan. Mới 23 tuổi, tương lai phía trước còn dài nhưng cơ thể đã mang thương tật. Chiến tranh khi ấy vẫn chưa kết thúc. Không ai biết cuộc đời rồi sẽ ra sao. Nhưng sau tất cả, ông tự nhủ với mình rằng nếu những người tàn tật nặng hơn vẫn sống được thì mình cũng phải sống được. "Nhà nước không thể bỏ rơi mình", ông nói. Niềm tin giản dị ấy giúp ông đi qua những năm tháng khó khăn nhất.
Y bác sĩ, cán bộ nhân viên Trung tâm nguyện "khắc cốt ghi tâm" lời dạy của Bác.
Được thành lập từ năm 1965, Trung tâm Điều dưỡng thương binh Thuận Thành, đơn vị trực thuộc Cục Người có công, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, là một trong những nơi nuôi dưỡng, điều trị thương, bệnh binh nặng tập trung, có số lượng thương binh đông nhất và thương tật nặng nhất cả nước.
Sau gần 60 năm hình thành và phát triển, Trung tâm đã tiếp nhận, quản lý, nuôi dưỡng, điều trị và phục hồi chức năng lao động cho hơn 1.000 thương, bệnh binh nặng bị thương ở các chiến trường, quê ở hầu khắp các tỉnh trong toàn quốc về an dưỡng, điều trị, phục hồi chức năng. Sau khi được điều trị, chăm sóc, đa số thương, bệnh binh đã phục hồi một phần sức khỏe và chức năng lao động, được chuyển về an dưỡng ở gia đình để hòa nhập với cộng đồng.
Năm 1975, ông trở về Thuận Thành. Ngày ấy trung tâm còn rất thiếu thốn. Bốn người ở chung một phòng. Nhà cửa đơn sơ. Điều kiện sinh hoạt còn nhiều hạn chế. Hơn nửa thế kỷ sau, mọi thứ đã đổi khác. Mỗi thương binh có một căn hộ riêng rộng khoảng 31 mét vuông. Chế độ điều dưỡng, khám chữa bệnh, trợ cấp được bảo đảm. Mỗi tháng, ngoài các khoản chăm sóc y tế, ông nhận khoảng 9 triệu đồng tiền trợ cấp thương tật để trang trải cuộc sống. Nhưng điều khiến ông hài lòng nhất không phải là vật chất mà là cảm giác được quan tâm, được sống bình yên trong tuổi già.
Đồng chí Ngô Huy Phô, Phó Giám đốc, kiêm Trưởng phòng Y tế Phục hồi chức năng trăn trở: "Áp lực ở đây lớn lắm anh. Sức khỏe các bác ngày một xuống theo tuổi tác, vết thương chiến tranh cứ tái phát. Nhưng cái khó không chỉ ở bệnh lý, mà ở tinh thần. Nhiều bác trái nắng trở trời, tính khí có thể nóng nảy thất thường. Lúc ấy, đội ngũ y bác sĩ phải coi các bác như người thân, là cha là chú để ứng xử cho hài hòa".
"Ở đây, các triệu chứng, biến chứng hay di chứng khác hẳn với bệnh nhân bình thường. Mỗi bệnh án đều gắn liền với những giai đoạn chiến đấu, những vết thương mà các bác đã đánh đổi tuổi thanh xuân để giữ gìn độc lập."
"Các bạn trẻ phải cố gắng tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, đặc biệt là phải luôn nhớ ơn các anh hùng liệt sĩ và thương bệnh binh. Bởi hòa bình hôm nay, đều có một phần to lớn từ sự hy sinh của các bác ở các trung tâm trong toàn quốc, trong đó có Trung tâm Điều dưỡng Thương binh Thuận Thành," bác sĩ Phô gửi gắm.
Một ngày của ông hiện nay diễn ra đều đặn như một chiếc đồng hồ. Năm giờ sáng thức dậy đi bộ khoảng bốn đến năm cây số. Ăn sáng xong lại đi chơi, thăm bạn bè, khám bệnh hoặc điều trị. Trưa nghỉ ngơi. Chiều tiếp tục vận động, rèn luyện thể lực rồi tối lại đi ngủ sớm. Điều đáng ngạc nhiên là ở tuổi ngoài bảy mươi, ông vẫn không mắc các bệnh nền phổ biến như huyết áp, tiểu đường hay mỡ máu. Bí quyết của ông rất đơn giản: sống vô tư, không lo nghĩ quá nhiều và duy trì vận động mỗi ngày. Trong suốt buổi trò chuyện, từ "vô tư" được ông nhắc đi nhắc lại nhiều lần như một triết lý sống đã theo mình từ chiến trường đến tận hôm nay.
Cuộc sống của các thương binh cao tuổi tại Trung tâm ngày nay đã có nhiều đổi thay, với cơ sở vật chất khang trang, môi trường sống thuận tiện và chế độ chăm sóc toàn diện.
Dẫu vậy, chiến tranh chưa bao giờ thực sự rời khỏi cơ thể những người thương binh. Mỗi khi mùa đông đến, nhất là những ngày nhiệt độ xuống dưới 10 độ C, những đầu tay cụt lại đau buốt. Có những đêm nằm mãi không ngủ được vì cảm giác lạnh len sâu vào từng vết thương cũ. Qua nhiều năm, ông học được cách thích nghi. Trước khi ngủ phải hơ ấm phần tay cụt bên bếp lửa hoặc nguồn nhiệt nào đó để cơ thể dễ đi vào giấc ngủ hơn. Ông cười bảo người tàn tật phải biết tìm cách vượt qua khó khăn của chính mình. "Ngủ được là vui rồi cháu ạ."
Nhắc đến đồng đội, ánh mắt đồng chí Khuây lập tức sáng lên. Hơn nửa thế kỷ sống cùng nhau tại Thuận Thành, tình cảm giữa những người lính năm xưa chưa bao giờ thay đổi. Họ từng chia nhau từng củ khoai, từng bát cơm trên chiến trường. Bây giờ họ tiếp tục sẻ chia bằng những lời hỏi thăm, những cuộc ghé thăm khi đau ốm. Theo ông, vật chất không quan trọng bằng sự động viên tinh thần. Chỉ cần một người đồng đội đến ngồi nói chuyện vài câu cũng đủ khiến người bệnh thấy khỏe hơn. "Đồng đội không bao giờ bỏ nhau được", ông nói chắc nịch.
Các cựu chiến binh đã cùng nhau đi qua chiến tranh, cùng chia ngọt sẻ bùi giữa bom đạn, để rồi khi hòa bình lập lại vẫn tiếp tục nương tựa vào nhau trong những năm tháng tuổi già.
Ở tuổi xế chiều, người thương binh từng đi qua chiến tranh không nói nhiều về những chiến công của mình. Điều ông quan tâm hơn là tương lai của đất nước và thế hệ trẻ. Ông vui khi thấy Việt Nam thay đổi từng ngày, vui khi thấy lớp trẻ hôm nay được học hành đầy đủ, có tri thức và nhiều cơ hội hơn thế hệ của ông. Theo đồng chí Khuây, những người lính năm xưa đã hoàn thành nhiệm vụ đánh đuổi chiến tranh. Còn nhiệm vụ của thế hệ hôm nay là xây dựng đất nước giàu mạnh hơn. Ông cũng gửi gắm niềm tin vào những người làm báo, những người có trách nhiệm đưa sự thật ra ánh sáng, đấu tranh với các hành vi lừa đảo, tiêu cực để xã hội ngày càng tốt đẹp hơn.
Không cần những bài diễn thuyết lớn lao, chính câu chuyện cuộc đời và tinh thần lạc quan của đồng chí Đỗ Đăng Khuây đã trở thành nguồn cảm hứng mạnh mẽ đối với những người trẻ có mặt hôm ấy.
Cuối cuộc trò chuyện, khi tôi hỏi liệu ông có muốn nhắn gửi điều gì với người trẻ, ông không nói về lý tưởng lớn lao hay những khẩu hiệu hùng hồn. Người lính già chỉ mỉm cười rồi chậm rãi đáp: "Các bác đến giờ cũng ở ngưỡng cửa cuối cuộc đời rồi. Chỉ mong các cháu sống vô tư, có sức khỏe, có học thức. Các cháu là những người xây dựng tương lai đất nước. Đất nước giàu lên thì các cháu được hưởng mà các bác cũng được hưởng. Chỉ mong các cháu khỏe mạnh."
Đó có lẽ cũng là điều đọng lại nhiều nhất sau cuộc gặp với ông Đỗ Đăng Khuây. Sau tất cả những mất mát của chiến tranh, sau hơn nửa thế kỷ sống cùng thương tật, điều người lính già giữ lại cho mình không phải là nỗi đau, mà là sự lạc quan. Một sự lạc quan giản dị được gói gọn trong hai chữ mà ông nhắc đi nhắc lại suốt buổi trò chuyện: "Sống vô tư."
Tin, ảnh: Trọng Nghĩa