Trong bối cảnh công nghiệp văn hóa ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong nền kinh tế sáng tạo, yêu cầu về đội ngũ nhân lực chất lượng cao trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Thực tế, nhiều lĩnh vực văn hóa nghệ thuật vẫn thiếu hụt nhân lực, nhất là nhân lực có trình độ chuyên môn sâu và khả năng sáng tạo. Việc tháo gỡ những điểm nghẽn trong đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực vì thế trở thành yêu cầu cấp bách, mang tính quyết định đối với sự phát triển bền vững của công nghiệp văn hóa Việt Nam.
Dự án nghệ thuật đương đại “Đối diện với vô cùng” là một minh chứng cho những thử nghiệm mới trong phát triển công nghiệp văn hóa. Đây là sản phẩm hợp tác giữa nền tảng sáng tạo "Lên Ngàn" và Nhà hát Tuồng Việt Nam, kết hợp múa đương đại với nghệ thuật tuồng truyền thống cùng âm nhạc hiện đại. Dù có giá lên đến hơn một triệu đồng/vé, mức giá khá cao so với các dự án nghệ thuật truyền thống, nhưng vào thời điểm ra mắt tháng 8 năm 2024, toàn bộ vé được bán hết, trong đó nhóm khán giả từ 22 đến 35 tuổi chiếm tỷ lệ lớn. Dự án đã hòa vốn chỉ sau ngày công diễn thứ hai, cho thấy sức hút của cách tiếp cận mới trong việc đưa nghệ thuật truyền thống đến gần hơn với đời sống đương đại.
Theo anh Nguyễn Quốc Hoàng Anh - Nhà sáng tạo và Giám đốc nghệ thuật nền tảng sáng tạo nghệ thuật Lên Ngàn: thành công của dự án không chỉ đến từ ý tưởng sáng tạo mà còn ở khâu quản trị. Thực tế cho thấy, để công nghiệp văn hóa phát triển bền vững, nhân lực không chỉ cần chuyên môn nghệ thuật mà còn phải được trang bị năng lực quản lý, vận hành và tổ chức dự án.
Các thành viên của “Lên Ngàn” đa số đều được đào tạo bài bản về công nghiệp văn hóa tại các quốc gia có nền công nghiệp văn hóa phát triển. Nguyễn Quốc Hoàng Anh thì được đào tạo 9 năm chuyên ngành nghệ thuật tại Việt Nam. Nhưng những kiến thức về vận hành, quản lý dự án anh có được là do tích lũy được từ thời gian làm việc và học tập tại nước ngoài. Theo anh, thực tế này cho thấy một khoảng trống quan trọng trong đào tạo nhân lực công nghiệp văn hóa tại Việt Nam: nhiều trường vẫn tập trung chính vào kỹ năng chuyên môn nghệ thuật mà chưa chú trọng đủ đến năng lực quản lý, vận hành dự án, những kỹ năng quyết định thành công của sản phẩm văn hóa trong thực tiễn.
Ông Vương Duy Biên, nguyên Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho rằng, một trong những hạn chế lớn của công nghiệp văn hóa hiện nay là cách nhìn chưa đầy đủ về nguồn nhân lực. Công nghiệp văn hóa sẽ không thể phát triển nếu chỉ dựa vào đội ngũ nghệ sĩ, mà cần một hệ sinh thái nhân lực đa dạng, bao gồm doanh nhân sáng tạo, nhà quản lý, chuyên gia công nghệ, nhà khoa học và các nhà hoạch định chính sách.
Theo ông, khi một sản phẩm văn hóa được tổ chức, vận hành bài bản, không chỉ tạo ra giá trị nghệ thuật mà còn có thể mang lại hiệu quả kinh tế, kéo theo sự phát triển của du lịch, dịch vụ và nhiều ngành liên quan. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết trong đào tạo nguồn nhân lực văn hóa theo hướng toàn diện, không chỉ giỏi chuyên môn mà còn có năng lực quản trị, kết nối thị trường và thích ứng với cơ chế kinh tế sáng tạo.
Nếu coi văn hóa là “nguồn lực mềm” để tạo ra giá trị kinh tế, thì đội ngũ sáng tạo văn hóa chính là “chìa khóa” để chuyển hóa nguồn lực ấy thành giá trị. Là người đứng sau thành công của nhiều dự án nghệ thuật cộng đồng, họa sĩ, giám tuyển Nguyễn Thế Sơn được đào tạo bài bản tại một trường nghệ thuật trong nước. Bản thân anh từng nhiều năm là giảng viên của một trường nghệ thuật nhưng những kiến thức quản trị dự án đều do anh tự trang bị trong quá trình làm việc.
Trước đây, phần lớn các chương trình đào tạo theo mô hình đơn ngành truyền thống, tập trung chủ yếu vào kỹ năng chuyên môn hẹp, thiếu kết nối với quá trình sản xuất, quản lý và thương mại hóa sản phẩm văn hóa. Tuy nhiên, trong bối cảnh ngành công nghiệp văn hóa ngày càng phát triển mạnh mẽ, nguồn nhân lực chỉ có kiến thức thuần túy khó có thể đáp ứng yêu cầu, cả về chất lượng sản phẩm lẫn khả năng vận hành, quản trị dự án.
Bà Mai Thị Hạnh - Phó trưởng Khoa Công nghiệp văn hóa và di sản, Trường Khoa học liên ngành và nghệ thuật - Đại học Quốc gia Hà Nội cho biết, việc mở rộng chương trình đào tạo đa ngành còn giúp sinh viên nhìn nhận văn hóa nghệ thuật không chỉ là giá trị tinh thần mà còn là nguồn lực kinh tế. Sinh viên được học cách kết hợp giữa truyền thống và đổi mới, nghệ thuật và quản trị, từ đó hình thành tư duy toàn diện, vừa sáng tạo vừa thực thi được dự án thực tế. Đây chính là bước đi quan trọng để phát triển đội ngũ nhân lực có năng lực quản trị, vận hành các dự án công nghiệp văn hóa, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của thị trường và công chúng.
Bản thân các đơn vị đào tạo trong nước thời gian qua cũng đang dần đổi mới, cập nhật xu hướng trong xây dựng các chương trình đào tạo để đáp ứng nhu cầu thực tế của công nghiệp văn hóa. Theo Bà Nguyễn Thị Thanh Mai, Trưởng bộ môn công nghiệp văn hóa và sáng tạo, Trường Khoa học liên ngành và nghệ thuật, Đại học Quốc gia Hà Nội: Việc đổi mới đào tạo cũng gắn liền với xu hướng quốc tế, khi nhiều cơ sở trong nước tham khảo chương trình từ các quốc gia có nền công nghiệp văn hóa phát triển, đồng thời kết hợp thực hành thực tiễn tại các dự án nghệ thuật trong nước. Điều này giúp sinh viên không chỉ “học trên giấy” mà còn có cơ hội trải nghiệm thực tế, làm việc trong môi trường dự án, từ đó rút ngắn khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu nghề nghiệp.
Trong bối cảnh công nghiệp văn hóa ngày càng khẳng định vai trò trong nền kinh tế sáng tạo, việc phát triển nguồn nhân lực không chỉ là yêu cầu trước mắt mà còn mang ý nghĩa chiến lược lâu dài. Khi những “nút thắt” về đào tạo, cơ chế và môi trường sáng tạo từng bước được tháo gỡ, một hệ sinh thái nhân lực văn hóa chất lượng cao sẽ dần hình thành. Đây chính là nền tảng để các giá trị văn hóa được chuyển hóa thành sản phẩm có sức cạnh tranh, góp phần nâng cao vị thế của văn hóa Việt Nam trong quá trình hội nhập và phát triển bền vững.
Thanh Duyên