Số liệu từ Cục Hải quan cho biết, lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu hàng hóa sang Campuchia đạt 2,01 tỷ USD, tăng 10,9% so với cùng kỳ năm trước (YoY); nhập khẩu hàng hóa từ thị trường này đạt 3,01 tỷ USD, tăng 6% YoY; nhập siêu khoảng 994 triệu USD.
Nhập khẩu hạt điều đạt mức cao nhất 10 năm
Trong kỳ, hạt điều là mặt hàng Việt Nam nhập khẩu nhiều nhất từ Campuchia với 1,4 tỷ USD, tăng 23% so với cùng kỳ. Đây cũng là mức kim ngạch 4 tháng cao nhất trong vòng 10 năm qua (2017 – 2026).
Lượng hạt điều nhập khẩu từ Campuchia trong kỳ tăng lên 806.274 tấn, cùng kỳ ở mức 750.366 tấn.
Hiện Campuchia là thị trường cung cấp hạt điều nhập khẩu lớn nhất cho Việt Nam, chiếm 65% tỷ trọng về lượng và 67% về giá trị.
Ngoài Campuchia, Việt Nam còn nhập khẩu hạt điều từ Tanzania với 153.584 tấn (giá trị 255 triệu USD) và 100.618 tấn từ Bờ Biển Ngà (174 triệu USD).
Hạt điều nhập khẩu từ Nigeria với 23.598 tấn, đạt 33,7 triệu USD; Indonesia với 8.910 tấn, đạt 13,6 triệu USD; 7.663 tấn từ Ghana, đạt 11,3 triệu USD.
Ngoài hạt điều, lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, Việt Nam chi 209 triệu USD để nhập khẩu cao su từ Campuchia, giảm 24% so với cùng kỳ. Lượng nhập khẩu mặt hàng này giảm từ 190.917 tấn xuống còn 156.986 tấn.
Trong khi đó, một số mặt hàng nhập khẩu từ Campuchia lại tăng trưởng mạnh như rau quả tăng 46% YoY, lên 37 triệu USD; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác với 43% YoY, đạt 14,2 triệu USD; quặng và khoáng sản khác với 19% YoY, đạt 28 triệu USD.
Ở nhóm may mặc, kim ngạch nhập khẩu nguyên phụ liệu dệt may, da giày tăng 7,4% YoY, đạt 30,3 triệu USD; vải tăng 13,1% YoY, ở mức 7,2 triệu USD.
Một số mặt hàng giá trị nhỏ có mức tăng trưởng đột phá như phế liệu sắt thép với 198% YoY, từ 1,3 triệu USD lên 4 triệu USD; lượng tăng từ 4.100 tấn tại cùng kỳ năm trước lên 11.985 tấn.
Kim ngạch nhập khẩu nguyên phụ liệu thuốc lá tăng 297% YoY, từ 0,4 triệu USD lên 1,59 triệu USD; đậu tương tăng 50% YoY, từ 1,6 triệu USD lên 2,4 triệu USD.
Trong khi đó, kim ngạch nhập khẩu kim loại thường lại giảm sâu 62% so với 4 tháng đầu năm 2025, từ 7,4 triệu USD xuống còn 2,8 triệu USD.
Việt Nam còn chi 1,26 tỷ USD để nhập khẩu hàng hóa khác từ Campuchia, giảm 3,7% YoY. Các mặt hàng cụ thể không được Cục Hải quan công bố.
Xuất khẩu nhiều mặt hàng bứt phá
Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, Việt Nam thu về 2,01 tỷ USD từ xuất khẩu hàng hóa sang Campuchia, tăng 10,9% YoY. Dệt may là mặt hàng xuất khẩu lớn nhất với 308 triệu USD, tăng nhẹ 0,8% YoY.
Mặt hàng đứng sau là sắt thép với 305 triệu USD, tăng 7,9% YoY; nguyên phụ liệu dệt may, da giày đạt 151 triệu USD, tăng 9,4% YoY.
Tổng giá trị ba mặt hàng trên đạt 765 triệu USD, chiếm 38% tỷ trọng hàng hóa xuất khẩu sang thị trường này.
Trong kỳ, các mặt hàng xuất khẩu lớn sang Campuchia tăng trưởng cao như phân bón tăng 25% YoY, ở mức 85,4 triệu USD; thức ăn gia súc và nguyên liệu tăng 56% YoY, đạt 75 triệu USD; sản phẩm từ chất dẻo tăng 18% YoY, lên 64 triệu USD.
Kim ngạch xuất khẩu giấy và sản phẩm từ giấy tăng 15,9% YoY, đạt 66 triệu USD; sản phẩm từ hóa chất cũng tăng 47% YoY, đạt 55,5 triệu USD; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác với 48,3 triệu USD, tăng 22% YoY.
Phương tiện vận tải và phụ tùng tăng 95% YoY, đạt 29 triệu USD; hóa chất tăng 72% YoY, đạt 26,9 triệu USD; bánh kẹo và sản phẩm từ ngũ cốc tăng 32% YoY, ở mức 32 triệu USD.
Trong khi đó, giá trị xuất khẩu xăng dầu sang Campuchia lại giảm 10,4% YoY, còn 66,4 triệu USD; sản phẩm từ sắt thép giảm 17% YoY, đạt 44 triệu USD.
Ở nhóm nông lâm thủy sản, Việt Nam còn thu về 23,3 triệu USD từ xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ sang Campuchia, tăng 22% YoY; rau quả tăng tới 258% YoY, từ 7,7 triệu USD lên 27,7 triệu USD; cà phê tăng 251% YoY, từ 4,8 triệu USD lên 17,1 triệu USD.
Ngược lại, giá trị xuất khẩu gạo lại giảm 60% so với cùng kỳ, còn 4 triệu USD; thủy sản giảm 35,9% YoY, còn 7,6 triệu USD.
Trong kỳ, Việt Nam thu về 472 triệu USD từ xuất khẩu hàng hóa khác sang Campuchia, tăng 9,5% YoY. Các mặt hàng cụ thể không được Cục Hải quan công bố.
Lê Hồng Nhung