Chuyến thăm là dấu mốc quan trọng, tạo những động lực mới và mở ra nhiều cơ hội hợp tác mới giữa hai nước.
Duyên nợ Việt - Nhật
Hơn nửa thế kỷ trước, khi Hiệp định Paris về Việt Nam vừa được ký kết, dẫu đất nước tạm thời ngưng tiếng súng nhưng Việt Nam phải đối mặt với muôn vàn khó khăn. Phương Tây quay lưng, các nước xã hội chủ nghĩa bất hòa thì ngày 21/9/1973, Nhật Bản chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam.
Quyết định này như hòn đá ném xuống mặt hồ tĩnh lặng, giúp Việt Nam phá vỡ thế cô lập sau chiến tranh. Ngay sau khi đất nước thống nhất tháng 4/1975, Nhật Bản đã mở đại sứ quán tại Hà Nội trước sự ngỡ ngàng của Phương Tây. Điều này thể hiện tầm nhìn xa của các chính khách Nhật khi họ bỏ qua sự nghèo kiệt và thế cô lập của Việt Nam và đặt hy vọng vào những tiềm năng lớn lao của Việt Nam ở Đông Nam Á.
Năm 1977, Thủ tướng Takeo Fukuda đã cho ra đời “Học thuyết Fukuda” với 3 điểm quan trọng: Thứ nhất là Nhật sẽ không bao giờ theo đuổi vai trò quân sự ở Đông Nam Á. Thứ hai là xây dựng lòng tin với Đông Nam Á. Thứ ba là hợp tác bình đẳng, “từ trái tim đến trái tim”.
Sự kiên trì này cho thấy Nhật có một tầm nhìn dài hạn vì sự thịnh vượng chung xuất phát từ trái tim. Người Nhật đã nhìn thấy một Việt Nam ổn định và phát triển trong tương lai, chứ không phải một đống rối ren, đổ nát hiện tại. Họ đang chuẩn bị cho vai trò “bà đỡ” của mình để bỏ “tiền tươi thóc thật” vực lại một quốc gia bị chiến tranh tàn phá nặng nề mà thế hệ cha anh của họ có phần can dự.
Đầu thập niên 90, Nhật Bản được coi là đã hóa rồng sau chiến tranh, một tay chơi G7 thứ thiệt, một cường quốc kinh tế - đã chính thức nối lại viện trợ ODA cho Việt Nam với khoản vay 45,5 tỷ Yên, tương đương với 364 triệu USD (1992). Nếu quy ra tiền hiện nay sẽ xấp xỉ 800 triệu USD.
Khoản tiền này không lớn nhưng là “tấm vé thông hành”, là cú đấm phá vỡ bức tường bao vây cấm vận. Nhật Bản lúc đó như một bà đỡ mát tay, kéo Việt Nam ra khỏi vũng lầy suy thoái. Các tổ chức tài chính thế giới như WB, IMF, ADB thấy anh cả Nhật Bản xuống tiền, sợ mất thị phần nên họ lũ lượt nhảy vào. Hiệu ứng dây chuyền là có thật để Việt Nam từng bước hội nhập.
Đó là khởi đầu cho dòng vốn ODA đổ vào hạ tầng của một quốc gia bị băm nát sau mấy chục năm chiến tranh liên miên.
Trong mấy ngày nghỉ lễ vừa qua, ai đó về Hạ Long nghỉ dưỡng nhìn thấy cầu Bãi Cháy lung linh soi bóng xuống mặt vịnh di sản, từ sân bay Nội Bài đi qua cầu Nhật Tân như con khủng long bắc qua sông Hồng vào nội đô hay chui qua hầm Hải Vân đỡ phải leo đèo mạo hiểm… Tất cả những công trình nghìn tỷ đó, từ giao thông, năng lượng đến y tế, đều có dấu chân của đồng Yên ODA.
Tính đến hết năm tài khóa 2025, tổng giá trị vay từ Nhật Bản đã đạt khoảng 2.550 tỷ Yên (hơn 23 tỷ USD). Con số này chiếm hơn 26% tổng vốn vay nước ngoài ký kết của Việt Nam. Nhật Bản chính thức là nhà tài trợ ODA song phương lớn nhất cho chúng ta.
Sức mạnh của Nhật: Tài chính và công nghệ
Vị thế của Nhật Bản trong G7 khá đặc biệt, dẫu không phải “lãnh đạo tối cao” như Mỹ, nhưng là “trụ cột không thể thiếu”, nhất là ở châu Á. G7 gồm Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Đức, Ý, Canada, Nhật Bản. Nhật là quốc gia châu Á duy nhất trong G7. Vai trò đại diện lợi ích và góc nhìn châu Á, là cầu nối giữa phương Tây và khu vực Indo-Pacific.
Trong mấy năm qua, nền kinh tế Nhật đang có xu hướng chững lại nhưng sức mạnh kinh tế vẫn thuộc top đầu. Nhật từng là nền kinh tế số 2 thế giới và hiện bị tụt hạng đứng sau Mỹ và Trung Quốc.
Nhật Bản có tổng tài sản quốc gia rất lớn, thuộc top đầu thế giới, dự trữ ngoại hối thuộc nhóm cao nhất, là chủ nợ lớn toàn cầu. Nói theo cách dân gian, Nhật giống một “người giàu lâu năm” hơn là một “startup tăng trưởng nhanh”.
Với vị thế là cường quốc kinh tế lớn, dẫu không còn thống trị nhưng Nhật có vốn đầu tư ra nước ngoài hàng đầu. Hơn thế Nhật là nhà tài trợ ODA lớn, là nguồn cung cấp vốn cho hạ tầng toàn cầu, trong đó có Việt Nam. Trong G7 Nhật giống như “nhà tài chính ổn định” giữ vai trò quan trọng trong các sự kiện cứu trợ các nước đang phát triển.
Trong bối cảnh cạnh tranh với Trung Quốc, Nhật là tuyến đầu địa lý, là đồng minh quan trọng của Mỹ ở châu Á. Với vai trò đảm bảo an ninh khu vực, bảo vệ chuỗi cung ứng, dẫn dắt chiến lược Indo-Pacific. Nhật bản không mạnh ở Big Tech như Mỹ, nhưng lại dẫn đầu ở một số lĩnh vực như robot, vật liệu, sản xuất chính xác. Đây là “công nghệ nền” mà Mỹ và châu Âu vẫn rất cần. Điều này giải thích vì sao Nhật Bản với vị thế là người giữ “xương sống công nghiệp” của G7.
Như đã nói ở phần trên, trong lộ trình hội nhập của Việt Nam, Nhật Bản là nước G7 tiên phong trong việc bình thường hóa quan hệ với Việt Nam. Nhật có phong cách không đối đầu trực diện, xây dựng ảnh hưởng qua đầu tư, ODA, hợp tác dài hạn và để lại những công trình quan trọng với quốc kế dân sinh.
Ngay từ thời trước đổi mới, Việt Nam đã bắt đầu xuất khẩu sang Nhật những mặt hàng nông sản như lạc, vừng, một số nguyên liệu thô để có ngoại tệ mua phân bón, vật tư nông nghiệp phục vụ bà con nông dân. Qua hơn 50 năm, giờ đây kim ngạch thương mại song phương đã vượt 50 tỷ USD vào năm 2025. Trong đó Việt Nam xuất siêu hẳn 2,09 tỷ USD. Mục tiêu đến 2030 là 60 tỷ USD. Nhờ các hiệp định như VJEPA, CPTPP, RCEP, VN giờ đây là đối tác thương mại lớn của Nhật và có thể đàm phán với họ bình đẳng và sòng phẳng hơn. Không còn cảnh thưa gửi xin xỏ nữa. Đây là một bước tiến dài, rất dài trong quá trình hội nhập của Việt Nam sau chiến tranh.
Chuyến thăm của bà Takaichi Sanae tới Việt Nam không chỉ là dịp để hai nước nhìn lại quan hệ song phương trong hơn 50 năm qua mà còn mở ra một giai đoạn hợp tác kinh tế mới, không còn chỉ là ODA hay sản xuất truyền thống, mà chuyển sang kinh tế công nghệ – chuỗi cung ứng – an ninh kinh tế.
Tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Lê Minh Hưng và Thủ tướng Nhật Bản Takaichi Sanae tham quan Trưng bày ảnh về quan hệ hợp tác giữa hai nước. Ảnh: Dương Giang/TTXVN.
Những cơ hội hợp tác trong giai đoạn mới
Kết quả hội đàm giữa hai nước với sự chứng kiến của hai thủ tướng đã tập trung vào một số điểm then chốt. Trong đó, năng lượng & an ninh năng lượng (ưu tiên số 1). Là quốc gia thiếu tài nguyên, nên Nhật xây dựng cả một hệ thống an ninh kinh tế rất tinh vi: Đa dạng hóa nguồn nhập (Trung Đông, Úc, Mỹ…); Dự trữ chiến lược quy mô lớn (đủ dùng nhiều tháng); Kiểm soát tiêu thụ cực kỳ hiệu quả. Nhật không mạnh về “có năng lượng”, mà mạnh về “quản lý năng lượng”.
Đây chính là thứ Việt Nam cần khi nhu cầu tăng nhanh. Hai bên nhấn mạnh hợp tác cung ứng dầu cho Nghi Sơn; ổn định nguồn năng lượng; phát triển năng lượng sạch. Nhật còn có chương trình hỗ trợ khu vực châu Á trị giá lớn để đảm bảo nguồn năng lượng ổn định. Nhật bản cũng sẽ hỗ trợ Việt Nam trong việc tiếp cận công nghệ năng lượng sạch (hydrogen, LNG, điện gió ngoài khơi).
Hai bên cũng thống nhất hợp tác chuỗi cung ứng đất hiếm, giảm phụ thuộc vào Trung Quốc. Việt Nam có trữ lượng lớn nhưng yếu ở công nghệ chế biến. Nhật có công nghệ tinh luyện, nhu cầu rất lớn. Đây là cơ hội để Việt Nam nhảy lên chuỗi giá trị cao hơn, không chỉ xuất thô.
Nhật cam kết hỗ trợ Việt Nam trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo (AI); bán dẫn; công nghệ vũ trụ. Hai bên ký hợp tác về: ICT; chuyển đổi số; AI, 5G/6G, cloud. Nhật không chỉ đầu tư, mà còn: hỗ trợ chính sách; đào tạo nhân lực. Hai bên nhấn mạnh: xây dựng chuỗi cung ứng bền vững; tăng “economic security”. Nhật đang giảm phụ thuộc vào Trung Quốc, dịch chuyển sản xuất, Việt Nam là điểm đến hàng đầu, là đối tác tin cậy lâu năm.
Nhật hỗ trợ dự án lúa phát thải thấp; nông nghiệp thông minh. Đây là hướng xuất khẩu giá trị cao, giảm phụ thuộc nông sản thô. Điểm rất quan trọng trong chuyến thăm ấy là an ninh kinh tế. Hai nước chính thức đưa “economic security” thành trụ cột hợp tác. Hiểu nôm na là không chỉ làm kinh tế mà còn bảo vệ chuỗi cung ứng, đảm bảo tài nguyên chiến lược, kiểm soát công nghệ.
Sau chuyến thăm của bà Takaichi, Việt Nam có 5 cơ hội lớn, Năng lượng & an ninh năng lượng; Khoáng sản chiến lược (đất hiếm); Công nghệ cao (AI, bán dẫn, không gian). Kinh tế số và dữ liệu. Việt Nam có thể trở thành mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng Nhật. Đây là cơ hội để Việt Nam thoát vai “công xưởng giá rẻ” và tiến lên nền kinh tế công nghệ giá trị gia tăng cao.
Phan Thế Hải