Nhớ cụ Đặng Minh Phương, người làm báo đi qua một thế kỷ

Nhớ cụ Đặng Minh Phương, người làm báo đi qua một thế kỷ
5 giờ trướcBài gốc
LÊ MINH HÙNG
Anh Nguyễn Thanh Bình, nguyên Trưởng Ban xây dựng Đảng báo Nhân Dân, người quen thân tôi từ lâu cùng ở khu tập thể với cụ Đặng Minh Phương tôi rủ qua thăm nhà ông. Cánh cửa mở ra chậm rãi. Nghe tiếng vợ gọi nhà có khách, từ trên gát đi xuống nhìn dáng người ông gầy hơn hồi còn ở Đà Nẵng nhưng ánh mắt vẫn sáng, giọng nói đầm ấm, rõ ràng và luôn luôn đầy nhiệt huyết. Cái bắt tay của ông khô mà chắc và kèm theo một nụ cười tươi, như truyền sang người đối diện cả một bề dày năm tháng. Trong căn phòng khách nhỏ, sách báo xếp đầy các kệ, những tập bản thảo cũ đã ngả màu thời gian nằm ngay ngắn trên bàn. Không khí ở đó dường như không mang vẻ tĩnh lặng của tuổi già, mà là nhịp thở của một đời trí tuệ chưa từng ngơi nghỉ, chưa hề nghỉ viết.
Tác giả với ông Đặng Minh Phương
Biết tôi cũng đã về hưu, nhưng ông rất cặn kẻ hỏi thăm những người làm báo thân quen của ông ngày xưa ở Đà Nẵng ra sao, báo chí dạo này phát triển thế nào? Ông hứa sẽ có dịp thu xếp vào thăm lại Đà Nẵng để gặp bạn bè năm xưa từng gắn bó.
Rồi ông lại say sưa kể chuyện như thể nó mới diễn ra hôm qua, chứ không phải chuyện của bảy tám thập niên trước. Sau Hiệp định Genève, từ một phóng viên Báo Nhân Dân, ông được điều động vào chiến trường Khu 5 khốc liệt, làm Báo Cờ Giải Phóng. Tôi nhìn ông – dáng người cao to, giọng nói trầm hiền – mà khó hình dung người trước mặt mình từng sống giữa bom đạn bủa vây của kẻ thù, giữa núi rừng vô cùng gian khổ, giữa những năm tháng mà mỗi bài báo được viết ra có thể phải trả giá bằng cả sinh mạng.
“Làm báo hồi đó không chỉ là viết,” ông cười nhẹ, “mà là đi, là sống cùng dân, cùng bộ đội, là cầm bút như cầm súng.” Câu nói ấy, ông nói bình thản như một lẽ đương nhiên, nhưng với tôi, nó mang sức nặng của cả một thế hệ làm báo cách mạng – những người viết bằng mồ hôi, bằng hiểm nguy, và bằng niềm tin vào chiến thắng ngày mai của đất nước.
Sau ngày thống nhất, ông lại vào Đà Nẵng, làm Trưởng Văn phòng đại diện Báo Nhân Dân khu vực miền Trung – Tây Nguyên suốt hơn hai thập kỷ. Đó là quãng thời gian báo chí không chỉ phản ánh, mà đồng hành cùng công cuộc hàn gắn và dựng xây sau chiến tranh. Ông đi nhiều, viết nhiều, gặp biết bao số phận, bao vùng đất còn in vết thương thời cuộc. Nhiều bài báo của ông, theo tôi nghĩ, chính là những lát cắt sống động của lịch sử thời hậu chiến.
Những năm ông làm Trưởng Văn phòng đại diện Báo Nhân Dân tại Đà Nẵng, tôi công tác ở báo Công an Quảng Nam-Đà Nẵng, thi thoảng tôi đến thăm Thuận Hữu lúc bấy giờ là phóng viên của Báo Nhân Dân và ông tại văn phòng ở đường Trần Quý Cáp. Những lần gặp gỡ đó không phải những cuộc gặp thăm hỏi xã giao thông thường, mà nhiều khi là những buổi “học nghề” đúng nghĩa. Tôi thường hỏi ông về thời chiến – làm báo giữa bom đạn thì viết thế nào, giữ bản thảo ra sao, đưa tin trong điều kiện thiếu thốn đủ bề và cách in báo phát hành báo thế nào. Ông kể chậm rãi, hóm hỉnh đôi khi pha chút tiếu lâm vốn có ở ông mà không hề tô vẽ, nhưng mỗi câu chuyện đều như một thước phim tài liệu sống về những năm tháng làm báo, làm văn nghệ của lực lượng tuyên huấn ở chiến trường Khu V khốc liệt.
Có lần ông nói: “Hồi đó, phóng viên phải biết đi rừng, biết gùi gạo, biết tránh máy bay, rồi mới tính đến viết hay”. Tôi nghe mà thấm, nghề báo cách mạng trong những năm tháng đó không chỉ cần cây bút, mà cần cả ý chí và lòng dũng cảm. Những điều ấy, ông không giảng dạy bằng lý thuyết, mà bằng chính cuộc đời mình.
Bút tích bài thơ của ông Đặng Minh Phương đăng trên báo Công an QN-ĐN năm 1993
Có thể nói, khi tôi đảm nhận cương vị Tổng Biên tập Báo Công an Quảng Nam – Đà Nẵng, ông vẫn là một trong những người thân quen của tôi luôn dõi theo công việc của lớp hậu sinh. Ông không đứng ngoài, mà trực tiếp tham gia viết bài, góp ý cách làm báo, cách xây dựng tờ báo ngành sao cho ngày càng vững vàng, có bản sắc, gần dân hơn. Trong những lần tâm sự tại các cuộc họp cộng tác viên mỗi năm của báo tổ chức ông nhắc đi nhắc lại: “Báo công an phải vừa chắc nghiệp vụ, vừa có hơi thở đời sống. Đừng để khô cứng quá, bạn đọc sẽ xa mình”. Lời góp ý chân tình đó cho đến nay tôi vẫn còn nhớ như in nhất là mỗi khi ngồi viết báo.
Nhưng có lẽ ít ai biết phía sau vẻ trầm lặng ấy ông còn là một cây bút trào phúng sắc sảo. Ông làm thơ nói lái rất tài tình. Những câu thơ hóm hỉnh, đôi khi châm biếm nhẹ nhàng thói hư tật xấu trong đời sống, nhưng đọc lên chỉ thấy thú vị, thâm trầm, chứ không cay nghiệt. Ông bảo, tiếng cười trong chiến tranh khốc liệt hay trong thời bình cũng là một cách làm cho xã hội tốt lên, miễn là tiếng cười có văn hóa và có lòng nhân. Có lần tôi quyết định đăng bài thơ pha “tiếu lâm” của ông trên báo Công an Quảng Nam-Đà Nẵng và nó cũng đã gây tiếng vang tốt dư luận xã hội lúc bấy giờ khi có hàng trăm bài thơ của nhiều tác giả họa lại bài của ông. Trong cuộc gặp hôm đó ông đã lục tìm đưa lại cho tôi xem bài thơ “tiếu lâm” đã đăng mà ông photo cất giữ cẩn thận trong kho tư liệu của mình.
Trên giá sách, tôi còn nhìn thấy những tập ký báo chí, ký văn học, những bài thơ trào phúng ông viết. Ở ông, chất nhà báo và chất văn hòa vào nhau. Những câu thơ trào phúng thì hóm hỉnh, sâu cay vừa đủ, nhưng luôn bao dung.
Buổi chiều ấy trôi nhanh. Ánh nắng ngoài cửa sổ chuyển dần sang màu mật ong rồi tắt hẳn. Tôi đứng dậy chào ông, lòng dâng một cảm giác vừa ấm áp, vừa xốn xang. Tôi biết mình vừa đi qua một lát cắt quý giá của đời người – một đời người gắn trọn với báo chí cách mạng và với chiến trường Khu V và với đất nước.
Rời căn nhà nhỏ, tôi đi chậm trên con phố Hà Nội, gió đã lạnh hơn. Tôi nghĩ về ông, về thế hệ những người làm báo đi qua chiến tranh, đi qua hòa bình, đi qua đổi thay, mà ngòi bút chưa từng nguội lửa. Họ không chỉ để lại bài báo, mà để lại một chuẩn mực về nhân cách nghề nghiệp. Vì thế mỗi lần có dịp ra Hà Nội thế nào tôi cũng đến thăm ông, diện kiến một con người đầy lạc quan và luôn thổi vào những thế hệ kế tiếp một tinh thần làm báo đầy nhiệt huyết.
Hơn mười năm đã trôi qua tôi chưa có dịp ra Hà Hội để ghé thăm ông. Vậy mà đầu tháng 2-2026 này, tôi bất ngờ nghe tin ông đã từ bỏ chúng tôi để đi về cõi vĩnh hằng khi tròn 100 năm tuổi!
Một trăm năm, với nhà báo lão thành Đặng Minh Phương, không phải là con số, mà là chuỗi ngày lao động, chiến đấu và viết lách không ngừng ngơi nghỉ.
Giờ đây, mỗi lần cầm bút, tôi lại nhớ đến ánh mắt hiền hậu và giọng nói trầm ấm của ông trong buổi chiều năm ấy. Nhớ lời cụ: làm báo trước hết phải là người tử tế. Có lẽ đó chính là “di chúc” lớn nhất ông để lại cho những người đi sau – hơn cả hàng nghìn bài báo, hơn cả những trang ký, trang thơ.
Một đời người, một thế kỷ, khép lại trong lặng lẽ. Nhưng những con chữ ông để lại vẫn tiếp tục sống, như chính tinh thần của một nhà báo đã đi qua gần trọn chiều dài lịch sử hiện đại của đất nước. Và với tôi, buổi thăm nhà năm 2014 ấy mãi là một ký ức không phai – ký ức về một con người mà cuộc đời ông - nhà báo lão thành Đặng Minh Phương - chính là một ký sự lớn góp vào dòng chảy của báo chí cách mạng Việt Nam.
L.M.H
Ngày 9-2-2025
Nguồn CAĐN : https://cadn.com.vn/nho-cu-dang-minh-phuong-nguoi-lam-bao-di-qua-mot-the-ky-post336953.html