Những bổn chèo còn sót lại

Những bổn chèo còn sót lại
3 giờ trướcBài gốc
Nỗ lực đưa hò bả trạo vào các hoạt động phục vụ du khách tại Đà Nẵng. Ảnh: K.N
Thế nhưng, khi số người biết hát bả trạo thưa vắng dần theo thời gian, nhiều bổn chèo đang đứng trước nguy cơ thất truyền.
Mảng ký ức truyền miệng
Tôi gặp lại Nghệ nhân Ưu tú (NNƯT) Nguyễn Thực, Chủ nhiệm CLB Bài chòi Nại Hiên Đông tại phường Sơn Trà khi ánh nắng cuối chiều đổ dài trên những mảng lưới vây. Ở tuổi gần 70, người đàn ông có nước da rám nắng và giọng nói hào sảng ấy vẫn vẹn nguyên ký ức về những ngày trai trẻ ăn sóng nói gió.
Rời mảnh đất chôn nhau cắt rốn Quảng Ngãi ra Đà Nẵng lập nghiệp từ năm 25 tuổi, hành trang giúp ông neo giữ hồn quê là tiếp tục đi biển và ngân nga những làn điệu bả trạo được cha ông trao truyền qua nhiều thế hệ.
Được trời phú cho chất giọng ấm, khỏe và giàu cảm xúc, ông Thực sớm được các bậc cao niên làng chài Nại Hiên, Mân Quang, Tân Thái lựa chọn tham gia đội bả trạo. Ban đầu chỉ là người chèo phụ họa, rồi dần dần ông thuộc lòng từng câu hô, điệu thán, từng lớp diễn trong bổn chèo cổ. Mỗi dịp lễ hội, thành viên đội bả trạo lại quây quần giữa sân lăng Ông tập hát. Người biết trước dạy người đến sau. Theo ông Thực, ngày trước, muốn theo bả trạo phải chịu khó nghe, tập.
“Các cụ hát một câu, mình nhẩm theo một câu. Học thuộc rồi mới được đứng vào đội hình. Có những bài dài hàng giờ đồng hồ, sai một câu là bị nhắc ngay”, ông Thực nhớ lại.
Điều đặc biệt của bả trạo là mỗi địa phương lại có những dị bản riêng. Cùng một nghi lễ cầu ngư nhưng cách hô, cách diễn xướng, lời ca hay trình tự các lớp diễn có thể khác nhau. Chính vì vậy, nhiều bổn chèo cổ hiện nay chỉ còn tồn tại trong ký ức của một vài nghệ nhân cao tuổi.
Ông Thực đơn cử, một cuộc hát bả trạo truyền thống thực chất là cả một hoạt cảnh tái hiện hành trình của người đi biển, từ lúc ra khơi, bủa lưới đến khi gặp sóng gió rồi được Ông Nam Hải cứu giúp và trở về bến bình an. Một chương trình đầy đủ thường kéo dài từ 90 đến 120 phút với nhiều lớp diễn đan xen giữa hát, nói lối và các động tác chèo mô phỏng đời sống ngư dân.
Cùng ở phường Sơn Trà, ngư dân Cao Văn Minh sau mấy mươi năm ngang dọc các ngư trường Hoàng Sa, Trường Sa đã dành thời gian nghiên cứu, chép lại những bổn chèo cổ. Ông đúc kết, trong những bổn chèo cổ thường được sử dụng trong lễ hội cầu ngư ở Đà Nẵng, phổ biến nhất vẫn là bổn “Long thần Bả Trạo ca” (chèo Ông), dùng trong lễ cầu ngư để ca ngợi công đức cá Ông và cầu mong mùa biển thuận lợi, cuộc sống bình an.
Theo thời gian, nhiều lớp diễn, lời ca và cách phân vai đã dần mai một. “Ngày trước mỗi đội đều có người thuộc làu làu từng lớp diễn. Giờ nhiều cụ mất rồi, những người còn lại chỉ nhớ được từng phần. Có bổn chèo nghe tên thì còn nhưng nội dung gốc gần như không ai thuộc hết nữa”, ông Minh trăn trở.
Nỗi lo “chèo lai” và bài toán số hóa di sản
Nỗi lo ấy cũng là điều mà nhiều nhà nghiên cứu đang canh cánh. Bởi bả trạo vốn là loại hình nghệ thuật truyền khẩu, giá trị của nó không chỉ nằm ở lời ca hay động tác biểu diễn mà ở kinh nghiệm đi biển, tín ngưỡng dân gian và tri thức cộng đồng được tích lũy qua nhiều thế hệ.
Trong cuốn nghiên cứu chuyên sâu Âm nhạc dân gian xứ Quảng, nhà nghiên cứu âm nhạc Trần Hồng đã giải mã cấu trúc độc đáo của loại hình này. Theo ông, bả trạo là sự hòa quyện tinh tế giữa hò, lý và chèo cổ. Toàn bộ đội hình dịch chuyển, xoay trở hoàn toàn dựa trên mệnh lệnh phát ra từ chiếc sanh tiền và tiếng trống chèo. Nhịp sanh lúc dồn dập như sóng vỗ bờ đá, lúc khoan thai như con thuyền thuận buồm xuôi gió. Đáng chú ý, bả trạo mang tính dị bản và sắc thái địa phương cực kỳ đậm nét. Mỗi vạn chài dọc miền Trung lại có một cách hát, cách hô, cách gõ nhịp khác nhau, tạo nên những tầng nấc văn hóa riêng biệt, phong phú cho từng vùng biển.
Tuy nhiên, tính truyền miệng và sự đa dạng này cũng chính là điểm yếu của bả trạo trong thời đại mới. Khi các nghệ nhân lớn tuổi khuất núi, những bổn chèo cổ nguyên bản ấy cũng vĩnh viễn mất đi. Nhà nghiên cứu Trần Hồng trong quá trình nghiên cứu cũng từng bày tỏ nỗi trăn trở lớn về hiện tượng “chèo lai”. Vì áp lực sân khấu hóa và sự đứt gãy thế hệ kế cận, một số nơi đã đưa các nhạc cụ điện tử vào đệm cho bả trạo, hoặc sáng tác lời mới dựa trên những giai điệu lai tạp. Với ông, cái hồn cốt tinh túy nhất của bả trạo phải nằm ở những nốt chênh, phô, những cú luyến láy tự nhiên mang vị mặn chát của biển mà chỉ những người cả đời đối mặt với sóng gió mới cất lên đúng điệu.
Thử đặt bả trạo bên cạnh bài chòi, chúng ta sẽ thấy rõ nghịch cảnh sinh tồn của hai loại hình văn hóa dân gian này. Bởi bài chòi mang hơi thở cuộc sống, bản chất là một trò chơi dân gian rộn ràng, vui tươi nên thường có đất diễn. Còn bả trạo thì khác, nó là ca thán, là sự kính ngưỡng linh thiêng của những con người gắn bó với biển và mang ơn cá Ông nên khá kén người nghe. Nếu không được kịp thời ghi chép, số hóa và trao truyền, một ngày nào đó, những câu hô gọi bạn chèo, những điệu thán vọng từ biển khơi sẽ chỉ còn là mảnh ký ức mờ xa trong lời kể của người già làng biển.
KỲ NAM
Nguồn Đà Nẵng : https://baodanang.vn/nhung-bon-cheo-con-sot-lai-3339598.html