Những mùa xuân huy hoàng trên kinh thành Hoàng Đế

Những mùa xuân huy hoàng trên kinh thành Hoàng Đế
6 giờ trướcBài gốc
Một địa điểm 2 lần là kinh đô (Đồ Bàn, Hoàng Đế) của 2 triều đại (Vijaya, Tây Sơn), 2 dân tộc (Chăm, Việt), trong 2 giai đoạn lịch sử cách nhau hơn 300 năm và là kinh đô xa nhất của người Việt về phương Nam.
Theo dòng lịch sử, đây còn là địa điểm của những thành, đơn vị mang tên khác với nhiều biến động sâu xa: thành Đồ Bàn, kinh đô Champa (990-1471); phủ lỵ Phủ Hoài Nhơn và lỵ sở đạo thừa tuyên Quảng Nam (1471-?); thành Hoàng Đế (1776-1801); thành Bình Định (1802-1808); lăng Võ Tánh (từ năm 1808).
Từ Vijaya đến kinh thành Hoàng Đế
Cuối thế kỷ X, các vua triều đại Indrapura (Đồng Dương, Quảng Nam) tiến hành chiến tranh với Đại Cồ Việt và hậu quả là người Champa đã dời đô từ Indrapura (Quảng Nam) vào Vijaya (Bình Định). Vương triều Vijaya kéo dài từ năm 990 đến năm 1471 thì kết thúc.
Ảnh tư liệu của Nguyễn Thanh Quang
Theo thư tịch cổ, kinh thành Champa có nhiều tên gọi: Vijaya, Trà Bàn, Chà Bàn, Đồ Bàn qua các thời kỳ lịch sử khác nhau.
Tên gọi Chà Bàn được sử liệu Đại Việt chép sớm nhất vào thời Lê (1403) và sử dụng nhiều nhất, một số sử liệu về sau gọi là thành Đồ Bàn.
Đồ Bàn - Vijaya là nơi định đô lâu nhất trong lịch sử Vương quốc Champa. Là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của một vương triều tồn tại gần 5 thế kỷ với 36 đời vua, khởi đầu là vua Harivaraman II/ Băng Dương La Duệ (990-999) và vị vua cuối cùng là Bàn La Trà Toàn (1460-1471), đánh dấu một thời kỳ phát triển rực rỡ của đất nước Champa trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt về kinh tế biển, sản xuất gốm, tôn giáo, nghệ thuật.
Năm 1776, sau khi giành thắng lợi trên vùng đất từ Phú Yên đến Quảng Nam, phong trào Tây Sơn lớn mạnh vượt bậc, nhận thấy thành cũ Quy Nhơn chật hẹp, Nguyễn Nhạc cho dời đại bản doanh lên thành Đồ Bàn.
Theo Đại Nam chính biên liệt truyện, tại đây, Nguyễn Nhạc làm lễ lên ngôi “tự lập làm Hoàng Đế, gọi năm đầu tiên là Thái Đức, gọi thành Đồ Bàn là thành Hoàng Đế”, trở thành kinh đô đầu tiên của vương triều Tây Sơn. Như vậy sau khoảng 300 năm hoang phế, vùng đất này trở lại vị trí kinh thành.
Hiện nay, tường thành phía Nam còn nguyên vẹn nhất, ba mặt còn lại bị thiên nhiên và con người xâm hại khá nhiều. Theo TS. Lê Đình Phụng (Viện Khảo cổ Việt Nam), thành Hoàng Đế là một trong những thành cổ có quy mô khá lớn trong hệ thống thành cổ Việt Nam, chu vi thành 7.740 m, diện tích toàn thành gần 365 ha.
1 địa điểm, 2 lần kinh đô, 3 tầng văn hóa
Trên cùng 1 địa điểm, lần lượt hiện diện 2 tòa thành của 2 vương triều, 2 tộc người cách nhau hơn 300 năm, với 2 tên gọi kinh đô, nhưng đáng tiếc nguồn sử liệu về 2 tòa thành, 2 kinh đô này lại cực kỳ ít ỏi.
Lăng Võ Tánh ở thành Hoàng Đế. Ảnh: Đoàn Ngọc Nhuận
Dưới thời các vua Champa, Đồ Bàn nhiều lần bị chiến tranh tàn phá, rồi được tu bổ, phục hồi, xây dựng mới ở nhiều thời điểm khác nhau, kiến trúc sau xây chồng xếp lên nền móng kiến trúc trước.
Đến thời Nguyễn Nhạc cho tu sửa, xây dựng lại thành Đồ Bàn để định đô. Ngoài việc mở rộng quy mô, đào đắp kiên cố, nhiều công trình kiến trúc được xây dựng trên nền móng kiến trúc cũ. Di tích kiến trúc kinh đô Đồ Bàn xưa hầu như bị lớp kiến trúc thời Tây Sơn phủ lấp.
Năm 1799, Nguyễn Ánh chiếm thành Hoàng Đế “đổi tên thành ấy gọi là thành Bình Định, để Chưởng hậu quân Võ Tánh và Lễ bộ Thượng thư Ngô Tùng Châu trấn thủ” (Đại Nam chính biên liệt truyện).
Đầu năm 1800, quân Tây Sơn vây hãm thành Bình Định. Sau gần 20 tháng cố thủ, quân Nguyễn cạn kiệt lương thực. Ngày 25 tháng 5 năm Tân Dậu (5-7-1801), Ngô Tùng Châu uống thuốc độc tự tử, một ngày sau Võ Tánh tự thiêu ở lầu Bát Giác.
Trần Quang Diệu, tướng nhà Tây Sơn chiếm lại thành. Đến tháng 6-1801, Phú Xuân thất thủ; tháng 4-1802, quân Tây Sơn bỏ thành Hoàng Đế, theo đường Thượng đạo rút quân ra Nghệ An. Lê Văn Duyệt và Nguyễn Văn Thành đưa quân chiếm lại thành Bình Định.
Năm 1802, sau khi Nguyễn Ánh lên ngôi, kinh đô Hoàng Đế bị triệt hạ; năm 1808, xây dựng trấn thành Bình Định ở Tân An thuộc huyện Tuy Viễn. Khi xây thành Bình Định, nhà Nguyễn cho tháo dỡ thành Hoàng Đế, tận dụng vật liệu đá ong.
Để tưởng nhớ hai trung thần Võ Tánh và Ngô Tùng Châu, nhà Nguyễn cho xây dựng lăng mộ Võ Tánh và đền Song Trung ngay trên nền cung điện hoàng đế Thái Đức - Nguyễn Nhạc.
Miếu Song Trung - nơi thờ Võ Tánh và Ngô Tùng Châu. Ảnh: Đoàn Ngọc Nhuận
Một lần nữa, địa điểm 2 lần là kinh đô bị san bằng, một lớp văn hóa mới chồng lấp lên 2 lớp văn hóa Champa và Tây Sơn. Tính phức tạp của những tòa thành, với nhiều vỉa tầng văn hóa đã dẫn đến những ý kiến khác nhau của các nhà sử học và các nhà khảo cổ về quy mô cấu trúc thành Hoàng Đế, cùng những nhận thức khác nhau về những công trình kiến trúc ở vùng đất có nhiều chồng lấp này.
Trước khi khảo cổ học can thiệp, hiểu biết của chính các nhà khoa học về thành Hoàng Đế rất sơ lược, chủ yếu qua sử liệu. Những năm gần đây, qua 6 cuộc khai quật khảo cổ học, diện mạo thành Hoàng Đế dần hiển thị rõ hơn.
Giữa năm 1778, khi thăm thành Hoàng Đế, được tiếp kiến Hoàng đế Nguyễn Nhạc, trong Narrative of a voyage to Cochin China (Tường trình về một chuyến đi đến Xứ Cochinchine), Charles Chapman - một thương gia người Anh - kể lại: “Sau khi trèo 12 bậc, chúng tôi lên đến điện chầu; đó là phòng rộng ba mặt trống, mặt cuối có tường lát ván, ngai vua đặt trên bệ cao mấy bậc.
Điện chầu lợp ngói, xây cất theo kiểu nhà người Đàng Trong, được chống đỡ bởi những hàng cột bằng gỗ quý... Nhìn chung điện chầu có vẻ sang trọng, mặc dù thiếu nhiều thứ tạo thành sự cao quý và tráng lệ thường thấy ở hoàng gia các nước phương Đông”.
Đối chiếu những mô tả kiểu này với kết quả cuộc khai quật khảo cổ học, điển hình là cuộc khai quật lần thứ 5 (năm 2012) với mục đích tìm kiếm tư liệu phục vụ cho việc lập luận chứng, cơ sở khoa học cho công tác trùng tu phục hồi, tôn tạo các hạng mục di tích trong khu Tử Thành (thành con) - thành Hoàng Đế hiện lên với nhiều chi tiết, cụ thể hơn, điều mà nếu chỉ căn cứ vào sử liệu sẽ không thể tường tận được.
Cụ thể với 5 hố khai quật, tổng diện tích 550 m2, các nhà khảo cổ đã bóc tách làm xuất lộ thủy hồ hình trăng khuyết phía Đông điện Bát Giác (đối xứng với hồ hình trăng khuyết phía Tây điện khai quật lần trước), các đoạn bờ tường thành phía Đông của Tử Thành kéo dài lên phía Bắc, góc thành Đông - Bắc và góc thành Tây - Bắc khu Tử Thành...
Kết quả thu được từ các cuộc khai quật rất phong phú, làm rõ không gian khu Tử Thành; đồng thời cho phép nhận định: Dù dựng xây, tồn tại trong một thời gian ngắn, nhưng diện mạo kinh đô Hoàng Đế của vua Thái Đức - Nguyễn Nhạc đã khẳng định sự quy chỉnh, bề thế của hoàng cung một vương triều.
Một vị trí địa lý quân sự tuyệt hảo
Không phải ngẫu nhiên, cuối thế kỷ thứ X vương triều Champa dời đô từ Đồng Dương (Quảng Nam) về Đồ Bàn (Bình Định) định đô gần 5 thế kỷ. Và khi Nguyễn Nhạc xưng vương đã tính toán cân nhắc, không chọn phủ thành Quy Nhơn đang có để xây dựng kinh thành, mà lại chọn một tòa thành bỏ hoang phế hơn 300 năm.
Một trong những yếu tố quan trọng nhất để cả hai vương triều quyết định chọn đóng đô nơi đây, đó là địa thế quân sự.
Xây dựng trên vị trí cao thoáng, thành Hoàng Đế lấy núi Mò O làm tiền án phía Đông, núi Tam Sơn làm lá chắn phía Nam, phía Tây là những dải đồi thấp nối tiếp nhau trải dài tạo tấm lá chắn giăng trước lũy.
3 mặt thành, phía xa là các dòng sông uốn lượn như hào tự nhiên che chắn. Thành được xây dựng trên thế đất hội tụ núi sông liền kề, liên kết điệp trùng, công thủ linh hoạt toàn diện.
Như đã nói ở trên, trước khi khảo cổ học can thiệp, chúng ta chỉ biết kinh đô Đồ Bàn, kinh đô Hoàng Đế qua sử liệu, chủ yếu là Tây Sơn Nguyễn Thị ký (Đồ Bàn thành ký) của Nguyễn Văn Hiển viết vào khoảng giữa thế kỷ XIX.
Những cuộc khai quật khảo cổ học thành Hoàng Đế, đặc biệt là lần thứ 6, thám sát nghiên cứu trong lòng đất, khu vực dự kiến xây dựng Đền thờ vua Thái Đức - Nguyễn Nhạc, nhằm tránh tình trạng xây dựng chồng lấn lên các di tích nguyên gốc, đã cung cấp thêm nhiều thông tin quan trọng.
Tuy vậy, dù đã có 6 cuộc khai quật khảo cổ, được nghiên cứu và đầu tư nhiều tỷ đồng tu bổ phục dựng, bảo tồn, nhưng đến nay, khi tham quan khu di tích thành Hoàng Đế, các nhà khoa học vẫn chưa thể giúp du khách hình dung được quy mô kiến trúc cung đình như từng có.
Nói cách khác, thẳm sâu trong lòng đất, những lớp trầm tích hứa hẹn sẽ còn nói cho ta biết nhiều điều bí ẩn thú vị.
***
Tỉnh Gia Lai đặt mục tiêu xây dựng Đền thờ vua Thái Đức - Nguyễn Nhạc, để khẳng định vị trí, tầm vóc của ngài xứng đáng với lịch sử, trả lại những mùa xuân huy hoàng cho vùng đất 2 lần là kinh đô.
Để làm được điều này cần hoạch định nghiên cứu, phục hồi, bảo tồn và phát huy di tích thành Hoàng Đế, cần có thêm nhiều kết quả nghiên cứu trên phương diện lịch sử, khảo cổ, kiến trúc... Để ít nhất vị trí xây dựng đền thờ không làm tổn hại đến những công trình quý giá, những giá trị nguyên bản còn ẩn trong lòng đất.
Vì vậy, việc tiếp tục tổ chức khai quật khảo cổ, xác định mục tiêu khai quật khảo cổ nhằm nghiên cứu khoa học, phục vụ công tác phục hồi, bảo tồn và phát huy di sản trước mắt và lâu dài, tránh tình trạng áp đặt, gán ghép lịch sử, là hết sức cần thiết.
Được như vậy, mới có thể sớm đánh thức một di sản văn hóa hiếm quý của dân tộc - 1 địa điểm 2 lần kinh đô, 3 tầng văn hóa, biến nơi đây trở thành một điểm đến hấp dẫn cho du khách trong và ngoài nước.
NGUYỄN THANH QUANG
Nguồn Gia Lai : https://baogialai.com.vn/nhung-mua-xuan-huy-hoang-tren-kinh-thanh-hoang-de-post579802.html