Quả cảm trong bom đạn
Căn nhà nhỏ trong con hẻm 51, đường Phạm Văn Chiêu (Phường An Hội Tây, TP Hồ Chí Minh) đón chúng tôi bằng sự tĩnh lặng rất đỗi đời thường. Trên chiếc xe lăn đặt sát hiên nhà, Anh hùng Lực lượng vũ trang (LLVT) nhân dân Võ Thị Tâm nở nụ cười hiền hậu, giọng nói chậm rãi nhưng rành rọt khi nhắc về những năm tháng đã đi qua.
Cuộc đời cách mạng của Anh hùng LLVT nhân dân Võ Thị Tâm bắt đầu rất sớm. Sinh ra tại xã Phước Hiệp, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre (trước đây), mới 16 tuổi, bà đã rời mái nhà quê để làm giao liên. Hai năm sau, bà được kết nạp Đảng, được đào tạo và đưa vào hoạt động nội thành, trở thành chiến sĩ biệt động thành khi tuổi đời còn rất trẻ. Sau phong trào Đồng khởi năm 1960, địch điên cuồng đàn áp, càn quét. Ba lần bà bị bắt, bị theo dõi gắt gao, nhưng không tìm được chứng cứ, kẻ thù buộc phải trả tự do cho người nữ chiến sĩ gan góc ấy.
Trung tướng Lê Xuân Thế, Tư lệnh Quân khu 7 thăm hỏi Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Võ Thị Tâm tại buổi gặp mặt cán bộ cao cấp Quân đội nghỉ hưu nhân kỷ niệm 81 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam.
Có những quãng đời tưởng như lặng lẽ. Bà từng được cử đi học văn nghệ tại Trung ương Cục R, rồi về phụ trách đội văn nghệ tỉnh An Giang. Nhưng chiến trường không để bà ở lại lâu với tiếng hát. Tháng 10-1964, Võ Thị Tâm được điều về đơn vị T4 (Biệt động Sài Gòn). Từ đây, bà bước vào những năm tháng hóa thân đầy hiểm nguy, hoạt động ngay sát trung tâm đầu não của địch, sống và chiến đấu bằng bản lĩnh, trí thông minh và sự linh hoạt hiếm có.
Đầu năm 1968, bà được điều động làm trinh sát chiến đấu Trung đoàn 31, Phân khu 2, Quân khu 8 (nay là Quân khu 9), sau đó giữ cương vị Đại đội phó Đại đội trinh sát, trực tiếp tham gia đợt II Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân. Giữa bom đạn Sài Gòn, nữ trinh sát ấy cùng đơn vị treo ba lá cờ giải phóng, rải hơn 10.000 truyền đơn, bỏ thư cảnh cáo bọn ác ôn, góp phần làm quần chúng nổi dậy, phá trụ sở dân vệ ở Cống Bà Xếp. Bà ba lần cùng đơn vị chiến đấu trên đường phố các quận 5, 6, 10 và 11; vừa liên lạc, trinh sát, vừa trực tiếp cầm súng chiến đấu. Nhiều lần giáp lá cà với địch, bắn cháy xe tăng, thu vũ khí. Trong những trận ác liệt nhất, bà bị thương nặng ở mắt nhưng vẫn kiên cường bám trụ, chăm sóc thương binh, lo chôn cất liệt sĩ, không rời trận địa khi đồng đội còn ở lại. Chính trong những ngày tháng ấy, đồng đội gọi bà bằng cái tên vừa thân thương vừa nể phục “trực thăng cá lẹp” để nói về sự nhanh nhạy, mưu trí và gan góc của nữ giao liên nội thành.
Ngày 17-6-1968 trở thành ký ức không thể phai mờ trong cuộc đời Võ Thị Tâm. Trận chiến diễn ra trong thế hoàn toàn không cân sức. Đơn vị chỉ còn lại 12 người, bị địch bao vây dày đặc, chốt chặn mọi ngả đường, có cả xe tăng yểm trợ. Trung đội trưởng Hai Hoàng dù bị thương nặng vẫn bình tĩnh ra lệnh cho bà cải trang làm dân, thoát ra bằng con đường hợp pháp để báo cáo tình hình với cấp trên và mang theo kỷ vật của đồng đội về Bộ Tư lệnh Phân khu II. Những người ở lại quyết chiến đấu đến cùng, thà hy sinh chứ không sa vào tay giặc. Hiểu rõ mệnh lệnh và trách nhiệm của mình, Võ Thị Tâm nén đau thương, quyết tâm vượt vòng vây địch, hoàn thành nhiệm vụ thiêng liêng là đưa kỷ vật của đồng đội trở về đơn vị an toàn.
Từ năm 1969, bà bị địch bắt giam, hết trại giam cầu Băng Ky, qua bót Hàng Keo, rồi đến Chí Hòa, bị đày ra Côn Đảo, sau đó chuyển về Tam Hiệp. Đến ngày 14-4-1975, Võ Thị Tâm được phóng thích khỏi nhà tù. Bà lại tiếp tục tiến về giải phóng Sài Gòn từ hướng Tây, trong đơn vị quân báo Khu Sài Gòn - Gia Định. Hai ngày sau, bà cùng các đồng chí Quận 11 xây dựng chính quyền cách mạng, đảm nhiệm cương vị Bí thư Phường 3, rồi Bí thư Phường 5, Quận 11. Sống trong những ngày tháng sôi động dựng xây chính quyền, bà đã tự tay viết nên những vần thơ mộc mạc mà thấm đẫm tinh thần cách mạng:
… Mấy ngày tiếp quản ở đây
Quân, dân với Đảng dựng lên chính quyền
Chính quyền cách mạng đầu tiên
Kinh phí hoạt động là tiền nhân dân
Lúc này thật rối hậu cần
Lương thực không đủ, độn phần bo bo
Vậy mà dân chẳng có lo
Đất nước độc lập giàu to hơn nhiều.
Người mẹ của những phận đời
Hòa bình lập lại, Võ Thị Tâm vừa tròn ba mươi tuổi. Tham gia cuộc Tổng tiến công Mậu Thân năm 1968, bà bị mất một đôi mắt; sáu năm một tháng trong ngục tù cướp đi một phần thân thể và cướp nốt tuổi thanh xuân, để lại những di chứng theo bà suốt cuộc đời.
Sau ngày đất nước yên tiếng súng, trong bà bỗng sống dậy một ước mơ rất đỗi đời thường: Có một mái ấm gia đình. Những lúc rảnh rỗi, nghe ngoài hiên tiếng trẻ thơ nô đùa gọi mẹ, lòng bà chợt se lại thiêng liêng và hạnh phúc đến nao lòng. Nhưng hiện thực thì nghiệt ngã. Là thương binh nặng, mất 81% sức lao động, sức khỏe yếu, không còn khả năng sinh con, kinh tế lại quá nghèo, bà hiểu rõ mình khó có thể mang lại trọn vẹn hạnh phúc cho người khác.
Dẫu vậy, trong sâu thẳm, ước mơ ấy vẫn thôi thúc: Giá như có một mái nhà, có chồng, có con, để khi tuổi già còn được nếm vị ấm êm của gia đình. Bà biết, ở tuổi này, ước mơ ấy đã muộn. Nhưng các mẹ, các chị ở địa phương vẫn động viên: “Muộn mà có còn hơn không”. Những lời ấy khiến bà xao xuyến, vừa ấm áp vừa day dứt, bởi ngoảnh lại thì tuổi xuân đã ở phía sau.
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Võ Thị Tâm.
Không lập gia đình, Võ Thị Tâm chọn cho mình một con đường khác, nhận nuôi một bé gái mồ côi, rồi thêm một bé trai, thêm một bé gái nữa. Bà nói giản dị mà thấm thía: Đó là những đứa con không chung dòng máu, không chung huyết thống, nhưng chung một tình thương. Từ những đứa trẻ nằm ẵm ngửa trong nôi, thiếu hơi mẹ, sống nương tựa vào người mẹ thương binh nghèo khó, tháng ngày lặng lẽ trôi qua. Rồi các con lớn lên, trưởng thành, “không chỉ ba mà thành sáu đứa con” trong vòng tay bà.
Hành trình nuôi con của một bà mẹ thương binh đầy gian khổ. Những năm tem phiếu, sữa phải mua bằng phiếu, bà dành phần gạo ít ỏi nấu cháo cho con, còn mình ăn cơm độn mì, bo bo. Con ốm đau triền miên, bệnh viện trở thành chốn quen. Có đứa đến hai tuổi mới chập chững đi được vài bước. Nhưng khó khăn không khuất phục được người nữ giao liên năm xưa.
Bà gửi con đi học, rồi chính mình cũng tiếp tục học tập. Năm 1977, bà được đi cử học tại Trường Pháp lý Trung ương, sau đó về công tác tại Tòa án Nhân dân Quận 11, trở thành thẩm phán. Khi được hỏi vì sao chọn Quận 11, bà trả lời ngắn gọn mà nặng nghĩa tình, đó là nơi gắn với bà những ngày Mậu Thân máu lửa, nơi nếu không có đồng bào che chở, bà đã không thể sống sót.
Vài năm sau, một người thương binh thấu hiểu và cảm thông với hoàn cảnh “mẹ góa con côi” đã đến bên bà. Đó là ông Nguyễn Phú Hằng, sĩ quan cao cấp đã nghỉ hưu. Về khu phố, ông là người dân gương mẫu; trong gia đình, là người chồng, người cha mực thước. Hai vợ chồng từng khát khao có một đứa con chung, nhưng hạnh phúc ấy không trọn vẹn. Một lần mang thai rồi mất con do nhiễm độc hóa học, bác sĩ khẳng định cơ thể ông bà nhiễm chất độc da cam không nên sinh nở thêm.
Năm 1996, bà Võ Thị Tâm nghỉ hưu, chuyển sinh hoạt Đảng về Phường 9, Quận 11, nay là phường Bình Thới. Dù tuổi cao, sức yếu, bà vẫn kiên định, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, giữ trọn phẩm chất người đảng viên cộng sản. Được giao nhiều nhiệm vụ từ tổ trưởng dân phố, Chủ tịch Hội Người cao tuổi, Phó chủ tịch Hội Cựu chiến binh đến tham gia các câu lạc bộ truyền thống kháng chiến của Phường, việc nào bà cũng tận tâm hoàn thành. Nghỉ hưu, nhưng bà chưa bao giờ nghỉ việc cách mạng. Năm 2011, Đảng và Nhà nước phong tặng bà danh hiệu cao quý Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, ghi nhận xứng đáng cho một cuộc đời lặng thầm mà quả cảm.
Một mùa xuân nữa đang khe khẽ gõ cửa. Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Võ Thị Tâm lại nhớ đến bài thơ chúc Tết Mậu Thân của Bác Hồ, để rồi ký ức dâng trào những ngày chiến đấu ác liệt trong nội đô, đoàn quân quyết tử hiên ngang, và cả những mùa xuân tuổi trẻ của bao người con gái góp phần làm nên hòa bình hôm nay.