Ba cựu du kích trở lại cánh đồng năm xưa, nơi từng là đồn bót của địch bị lực lượng cách mạng xóa sổ, nay hồi sinh trong màu xanh yên bình của quê hương.
Trong gia đình ấy, ông Phạm Văn Tam là một trong những người cầm súng từ rất sớm. Năm 1960, khi tuổi đời còn trẻ, ông đã tham gia lực lượng du kích mật, ban ngày lao động như bao người dân, ban đêm sẵn sàng nhận nhiệm vụ chiến đấu.
Ông Phạm Văn Tam kể về trận đánh đồn đầu đời với tinh thần quyết tử cho Tổ quốc.
Chỉ sau vài tháng, ông được điều động tham gia phục vụ trận đánh đồn 15 U Minh vào những ngày giáp Tết. “Trước giờ nổ súng, khi cán bộ hỏi tôi và một số thanh niên khác ai tình nguyện ở lại, bởi đi là cầm chắc hy sinh. Không ai chịu về hết, ai cũng xin ở lại đánh”, ông Tam nhớ lại, giọng vẫn còn nguyên khí thế của những năm tháng tuổi trẻ.
Trận đầu tiên ấy, lực lượng ta bắt sống 17 tù binh, thu nhiều vũ khí của địch. Nhưng điều còn đọng lại sâu sắc hơn chính là tinh thần quyết tử của những con người dám đối mặt với cái chết vì độc lập dân tộc.
Những năm sau đó, trong điều kiện vô cùng thiếu thốn, ông Tam cùng đồng đội chiến đấu bằng cả những vũ khí thô sơ như ngựa trời, đạp lôi. Có lần, trong một trận phục kích bên bờ kênh, dù chưa từng sử dụng loại súng này, ông vẫn bình tĩnh nhận nhiệm vụ. Ông phải dùng dây chuối buộc cố định khẩu súng để tránh giật, rồi chờ địch lọt vào tầm mà nổ súng. Tiếng nổ đen khói vang lên giữa bưng biền, mở đầu cho đợt tấn công của du kích.
“Hồi đó không biết sợ là gì. Thấy giặc hà hiếp dân thì mình phải đứng lên đánh”, ông Tam nói.
Từ người anh mở đường, những người em trong gia đình ông Tam lần lượt tiếp bước. Trong đó có ông Phạm Minh Tâm - người con thứ sáu tham gia du kích khi mới 16 tuổi, trưởng thành qua từng trận đánh ác liệt nơi vùng căn cứ U Minh.
Ông Phạm Minh Tâm bồi hồi nhớ lại lần đầu nổ súng tấn công địch nơi bờ tràm.
Ông Tâm vẫn nhớ như in buổi rạng đông đầu tiên cầm súng, cùng đồng đội phục kích địch bên bờ tràm. Khi bóng lính vừa xuất hiện, loạt đạn bất ngờ vang lên, mở đầu cho những năm tháng chiến đấu không ngừng nghỉ.
“Thiếu thốn đủ thứ, nhưng đã cầm súng là phải đánh”, ông Tâm nói.
Năm 1972, chiến trường bước vào giai đoạn khốc liệt. Địch siết chặt kiểm soát, cấm vận lương thực, khiến đời sống người dân và lực lượng cách mạng vô cùng khó khăn. Trong hoàn cảnh ấy, ông Tâm được giao chỉ huy trận phục kích đám biệt kích để mở đường vận chuyển lương thực cho dân, cho cách mạng.
Đêm xuống, lực lượng ém quân trong đám cỏ ven kinh Chủ Vàng. Khi địch chủ quan tiến vào, loạt súng của ta bất ngờ nổ ra, lựu đạn liên tiếp phát huy hiệu quả. Chỉ trong thời gian ngắn, ta tiêu diệt 12 tên địch, làm chủ trận địa, khai thông tuyến vận chuyển. Chiến công ấy khiến địch co cụm, không dám lộng hành trong thời gian dài.
Năm 1974, ông Tâm tiếp tục tham gia trận diệt tên trưởng đồn bảo an ác ôn gây nhiều tội ác với nhân dân. Không có đầy đủ phương tiện, ông cùng đồng đội linh hoạt sử dụng lựu đạn gài thủ công, kiên nhẫn chờ đợi suốt đêm. Khi thời cơ đến, trận đánh diễn ra nhanh gọn, kết liễu mục tiêu, góp phần làm tan rã bộ máy kìm kẹp ở địa phương.
Nếu người anh ba và người em thứ sáu là những người dày dạn trận mạc, thì ông Phạm Văn Hiệp - người em thứ bảy trong gia đình lại là hình ảnh của lớp du kích trẻ gan dạ, mưu trí.
Ông Phạm Văn Hiệp tự hào nhắc lại những trận đánh táo bạo bằng chiến thuật nội tuyến, bắt sống địch ngay giữa đồn.
Năm 1973, khi mới 18 tuổi, ông Hiệp tham gia trận đánh đồn bằng chiến thuật nội tuyến. Đêm trăng sáng, lực lượng bí mật tiếp cận hàng rào kẽm gai, mìn được bố trí sẵn hai bên cửa. Chỉ cách đồn lớn 30m, mọi hành động đều phải chính xác tuyệt đối.
Khi thời cơ đến, hỏa lực bất ngờ nổ ra, tiêu diệt tên trưởng ấp ác ôn ngay tại chỗ, khống chế toàn bộ lực lượng bên trong. Nhiều tên bị bắt sống, vũ khí và tài liệu bị thu giữ. “Đánh xong mà đồn lớn bên cạnh vẫn không hay biết gì”, ông Hiệp kể, ánh mắt ánh lên niềm tự hào.
Đến năm 1975, ông giữ vai trò ấp đội trưởng, trực tiếp tham gia các mũi tiến công trong cao trào giải phóng miền Nam. Sau ngày đất nước thống nhất, ông tiếp tục làm nghĩa vụ quốc tế tại Campuchia, chiến đấu nhiều trận cho đến khi bị thương mới trở về.
Trong suốt những năm tháng chiến tranh, gia đình 13 anh em ấy có đến 5 người tham gia cách mạng. Có người bị thương, có người đối mặt với cái chết nhiều lần nhưng không ai lùi bước. Từ người anh ba đến người em thứ sáu, thứ bảy… tất cả đều chung một lý tưởng đánh giặc, bảo vệ quê hương.
Ở vùng Đông Hưng năm xưa, du kích chiến đấu trong điều kiện vô cùng thiếu thốn. Quần áo, lương thực phải tự lo, vũ khí thì xin hoặc đánh địch mà lấy. Thế nhưng, chính trong gian khó ấy, ý chí chiến đấu lại càng được hun đúc.
Phía sau những người lính là nhân dân - những người âm thầm nuôi giấu, tiếp tế, chở che. Tình quân - dân gắn bó đã tạo nên sức mạnh bền bỉ, giúp cách mạng vượt qua mọi thử thách. Hôm nay, khi đất nước đã hòa bình, những con người năm xưa giờ tóc đã bạc. Nhưng mỗi khi tháng tư về, ký ức chiến tranh lại hiện lên rõ nét.
“Có được ngày hôm nay là nhờ biết bao người đã nằm lại. Mình còn sống để kể lại, là còn mang ơn”, ông Tâm lặng giọng.
Từ những bờ tràm, con kênh, bưng biền năm ấy, một thế hệ đã đi qua chiến tranh bằng tất cả lòng quả cảm. Và chính họ, những con người bình dị trong một gia đình nông dân đã góp phần viết nên bản hùng ca bất diệt, để đất nước trọn niềm vui trong ngày 30/4 lịch sử.
Bài và ảnh: ĐẶNG LINH