Nội dung cơ bản của dự thảo Nghị định về phát triển liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp bền vững

Nội dung cơ bản của dự thảo Nghị định về phát triển liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp bền vững
3 giờ trướcBài gốc
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, sau hơn 06 năm triển khai Nghị định số 98/2018/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, chính sách đã góp phần thúc đẩy hình thành các mô hình liên kết giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân, từng bước chuyển đổi tổ chức sản xuất theo hướng gắn với thị trường.
Tổng hợp từ 34 tỉnh, thành phố, đến hết năm 2025, cả nước đã phê duyệt 2.938 dự án và kế hoạch liên kết, với sự tham gia của 2.412 hợp tác xã, 538 tổ hợp tác, 1.305 doanh nghiệp và hơn 211.000 hộ nông dân; tổng kinh phí thực hiện khoảng 15.243 tỷ đồng, trong đó ngân sách nhà nước hỗ trợ 3.186 tỷ đồng, chiếm 20,9%, phần còn lại do các chủ thể đối ứng.
Tỷ lệ giá trị sản phẩm nông nghiệp được sản xuất theo hình thức hợp tác, liên kết đã tăng từ khoảng 10% trước năm 2018 lên trên 31% vào năm 2025, góp phần nâng cao giá trị gia tăng và hiệu quả sản xuất trong một số ngành hàng chủ lực.
Tuy nhiên, kết quả đạt được chưa tương xứng với yêu cầu phát triển, còn nhiều hạn chế, bất cập:
(i) Liên kết chuỗi giá trị phát triển chưa bền vững: nhiều mô hình liên kết mang tính hình thức, phụ thuộc vào hỗ trợ ngân sách; hợp đồng liên kết thiếu ràng buộc; tình trạng phá vỡ hợp đồng vẫn diễn ra khi giá thị trường biến động;
(ii) Quy mô và phạm vi liên kết còn hạn chế: số lượng hợp tác xã tham gia liên kết còn thấp so với tổng số hợp tác xã đang hoạt động; nhiều hợp tác xã chỉ dừng ở cung cấp dịch vụ đầu vào, chưa tham gia sâu vào chế biến và tiêu thụ;
(iii) Chưa hình thành được vùng nguyên liệu tập trung, đạt chuẩn: thiếu cơ chế hỗ trợ đồng bộ về hạ tầng, tổ chức sản xuất, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn chất lượng; khó đáp ứng yêu cầu của thị trường xuất khẩu;
(iv) Chính sách hỗ trợ chưa phù hợp và chưa đủ mạnh: mức hỗ trợ hạ tầng còn thấp; nội dung hỗ trợ chưa bao quát các yếu tố quan trọng như logistics, chuyển đổi số, sản xuất xanh; cơ chế tín dụng, bảo hiểm và chia sẻ rủi ro trong chuỗi còn thiếu;
(v) Thủ tục hành chính còn phức tạp, khó tiếp cận: quy trình xây dựng, thẩm định, phê duyệt dự án kéo dài; chưa phù hợp với năng lực của hợp tác xã và doanh nghiệp nhỏ;
(vi) Chưa bao quát đầy đủ các chủ thể trong chuỗi giá trị: thiếu cơ chế đối với thương lái, logistics và các tổ chức dịch vụ trung gian, dẫn đến khoảng trống thể chế trong tổ chức thị trường;
(vii) Chưa tích hợp các yêu cầu phát triển mới: chuyển đổi số, truy xuất nguồn gốc, giảm phát thải, kinh tế tuần hoàn và thích ứng biến đổi khí hậu chưa được thể chế hóa đầy đủ.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, yêu cầu của thị trường ngày càng cao về chất lượng, truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững; đồng thời Việt Nam đã cam kết đạt phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050, việc tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị hiện đại, minh bạch và bền vững là yêu cầu tất yếu.
Việc ban hành Nghị định mới về phát triển liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp bền vững là hết sức cần thiết nhằm khắc phục các hạn chế của Nghị định số 98/2018/NĐ-CP, đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp trong giai đoạn mới.
Nội dung cơ bản của dự thảo Nghị định
Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, dự thảo Nghị định được xây dựng theo hướng đổi mới căn bản cách tiếp cận chính sách phát triển liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp, chuyển mạnh từ hỗ trợ hành chính sang kiến tạo môi trường, từ hỗ trợ đơn lẻ sang phát triển hệ sinh thái liên kết, từ ngắn hạn sang ổn định, bền vững. Nội dung cơ bản tập trung vào các nhóm chính sách chủ yếu sau:
Chuyển đổi cách tiếp cận chính sách: Chuyển từ "khuyến khích liên kết sản xuất, tiêu thụ" sang phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp bền vững, bao trùm toàn bộ các khâu từ cung ứng đầu vào, sản xuất, thu hoạch, chế biến đến tiêu thụ; gắn với tiêu chuẩn chất lượng, truy xuất nguồn gốc và yêu cầu thị trường.
Hoàn thiện hệ thống khái niệm và phạm vi điều chỉnh: Bổ sung, chuẩn hóa các khái niệm cốt lõi như: chuỗi giá trị nông nghiệp, liên kết chuỗi giá trị, chủ thể trung tâm chuỗi, vùng nguyên liệu, dữ liệu chuỗi giá trị; đồng thời phân biệt rõ giữa liên kết chuỗi giá trị và hoạt động mua bán nông sản thông thường nhằm tránh lợi dụng chính sách.
Quy định tổ chức và vận hành chuỗi giá trị: Quy định nguyên tắc, nội dung và phương thức tổ chức chuỗi giá trị theo cơ chế thị trường; xác định rõ vai trò của các chủ thể (doanh nghiệp, hợp tác xã, nông dân và các tác nhân dịch vụ); đồng thời hình thành 03 mô hình chuỗi giá trị điển hình: doanh nghiệp dẫn dắt, hợp tác xã trung tâm và chuỗi giá trị mở.
Chuẩn hóa hợp đồng và cơ chế liên kết: Quy định đầy đủ nội dung hợp đồng liên kết (sản lượng, chất lượng, giá, quyền, nghĩa vụ, chia sẻ lợi ích và rủi ro); khuyến khích áp dụng cơ chế giá linh hoạt theo thị trường, cơ chế thưởng chất lượng và các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng.
Bổ sung cơ chế bảo đảm thực hiện liên kết: Thiết lập cơ chế bảo đảm liên kết thông qua các biện pháp như đặt cọc, ký quỹ, bảo lãnh; cơ chế chia sẻ rủi ro; bảo hiểm nông nghiệp; điều chỉnh linh hoạt hợp đồng khi thị trường biến động, nhằm nâng cao tính ổn định và bền vững của chuỗi.
Phát triển vùng nguyên liệu nông nghiệp: Quy định đầy đủ về vùng nguyên liệu nông nghiệp với yêu cầu, tiêu chí và tổ chức thực hiện; gắn vùng nguyên liệu với liên kết chuỗi, tiêu chuẩn chất lượng, truy xuất nguồn gốc và thị trường tiêu thụ.
Đổi mới công cụ tổ chức liên kết: Chuyển từ "Dự án liên kết" sang "Kế hoạch liên kết" làm công cụ trung tâm, bảo đảm linh hoạt, phù hợp thực tiễn sản xuất, kinh doanh; đồng thời cải cách thủ tục hành chính theo hướng đơn giản, minh bạch, áp dụng cơ chế một cửa và điện tử hóa.
Hệ thống chính sách hỗ trợ toàn diện: Thiết kế lại chính sách theo 05 nhóm lớn, gồm: hỗ trợ tư vấn xây dựng liên kết; hỗ trợ đầu tư hạ tầng, trang thiết bị và cơ giới hóa; hỗ trợ phát triển sản xuất, tiêu chuẩn chất lượng, thị trường và thương hiệu; hỗ trợ khoa học công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; hỗ trợ tài chính, tín dụng và quản lý rủi ro. Chính sách hỗ trợ phát triển liên kết được thực hiện theo nguyên tắc linh hoạt, lồng ghép đa nguồn lực và gắn với vai trò từng chủ thể.
Tăng cường quản lý nhà nước và phân cấp: Quy định rõ trách nhiệm của các bộ, ngành và địa phương; tăng cường phân cấp cho địa phương trong phê duyệt và tổ chức thực hiện liên kết; đồng thời xây dựng hệ thống dữ liệu và giám sát chuỗi giá trị trên phạm vi toàn quốc.
Bổ sung cơ chế thực thi và xử lý vi phạm: Quy định cụ thể về xử lý vi phạm, bao gồm thu hồi hỗ trợ, bồi thường thiệt hại, hạn chế tham gia chính sách; đồng thời tăng cường cơ chế giám sát, hậu kiểm nhằm bảo đảm kỷ luật và hiệu quả thực thi chính sách.
Nguồn Chính Phủ : https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/noi-dung-co-ban-cua-du-thao-nghi-dinh-ve-phat-trien-lien-ket-chuoi-gia-tri-nong-nghiep-ben-vung-119260419064934401.htm