Nguyên nhân xuất phát từ sự suy giảm tại một số thị trường lớn cùng áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt và việc các quốc gia nhập khẩu siết chặt tiêu chuẩn xanh, truy xuất nguồn gốc và phát thải đang đặt ngành nông nghiệp Việt Nam trước yêu cầu phải chuyển mạnh từ tăng trưởng theo sản lượng sang phát triển dựa trên chất lượng và giá trị gia tăng. Đó là nội dung chính tại Hội nghị thúc đẩy xuất khẩu nông, lâm, thủy sản nhằm triển khai các giải pháp hoàn thành mục tiêu tăng trưởng năm 2026 ngày 8-5 do Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức.
Xuất khẩu cà phê tăng về số lượng nhưng giảm về giá trị. Ảnh: Minh Huyền
Tăng trưởng xuất khẩu duy trì tích cực nhưng thiếu đồng đều
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 4 tháng đầu năm 2026, sản xuất nông, lâm, thủy sản tiếp tục duy trì ổn định, tạo nền tảng cho chế biến và xuất khẩu. Trồng trọt cơ bản thuận lợi; nhiều loại cây ăn quả, cây công nghiệp lâu năm đạt mức tăng trưởng khá. Chăn nuôi lợn, gia cầm phục hồi tích cực nhờ kiểm soát tốt dịch bệnh và thị trường tiêu thụ ổn định. Thủy sản tiếp tục duy trì đà tăng trưởng, trong khi lâm nghiệp giữ vững nhịp độ ở cả trồng rừng, bảo vệ rừng và khai thác gỗ.
Kết quả này góp phần đưa kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản 4 tháng đầu năm đạt 23,04 tỷ USD, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm trước. Nhập khẩu đạt 17,65 tỷ USD, tăng 12%, toàn ngành tiếp tục duy trì xuất siêu.
Xét theo thị trường, châu Á tiếp tục là khu vực xuất khẩu lớn nhất, chiếm 44,1% tổng kim ngạch. Trung Quốc, Hoa Kỳ và Nhật Bản vẫn là 3 thị trường xuất khẩu chủ lực của nông sản Việt Nam. Đáng chú ý, xuất khẩu sang Trung Quốc tăng mạnh 28,8%, cho thấy nhu cầu nhập khẩu của thị trường này đang phục hồi tích cực ở một số nhóm hàng như rau quả, sắn và thủy sản. Ngược lại, xuất khẩu sang Hoa Kỳ giảm 4,8%, phản ánh rõ những tác động từ xu hướng thắt chặt tiêu dùng và gia tăng rào cản thương mại tại các thị trường phát triển.
Ở nhóm ngành hàng, rau quả tiếp tục là điểm sáng khi đạt 2,05 tỷ USD, tăng 21,6%, trong đó sầu riêng tiếp tục giữ vai trò động lực tăng trưởng chủ lực. Xuất khẩu thủy sản đạt 3,54 tỷ USD, tăng 10,4%; hồ tiêu tăng mạnh cả lượng và giá trị nhờ giá thế giới duy trì ở mức cao; sắn và sản phẩm từ sắn phục hồi khá tích cực nhờ nhu cầu từ Trung Quốc tăng trở lại.
Xuất khẩu rau quả tăng mạnh từ đầu năm đến nay. Ảnh: Đỗ Phong
Tuy nhiên, nhiều mặt hàng chủ lực khác lại bộc lộ dấu hiệu chững lại. Gỗ và sản phẩm gỗ giảm 1,1%; gạo giảm cả lượng và giá trị; hạt điều giảm nhẹ; chè giảm về lượng xuất khẩu. Đáng lưu ý, một số ngành hàng như gạo và cà phê ghi nhận tình trạng tăng sản lượng xuất khẩu nhưng giá trị gia tăng không tương xứng, xuất khẩu chưa bền vững. Điều này phản ánh rõ thực tế mô hình tăng trưởng của nhiều ngành hàng vẫn phụ thuộc lớn vào xuất khẩu thô, năng lực chế biến sâu và xây dựng thương hiệu còn hạn chế.
Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, việc chỉ dựa vào lợi thế sản lượng và chi phí thấp đang khiến nhiều ngành hàng đối mặt nguy cơ giảm sức cạnh tranh. Biên lợi nhuận của doanh nghiệp xuất khẩu bị thu hẹp khi giá vật tư đầu vào, logistics và chi phí tuân thủ tiêu chuẩn quốc tế ngày càng tăng.
Áp lực từ “rào cản xanh” và yêu cầu tái cấu trúc xuất khẩu
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tăng trưởng xuất khẩu hiện nay vẫn tiềm ẩn nhiều yếu tố thiếu bền vững. Một số ngành hàng tăng trưởng chủ yếu do yếu tố mùa vụ hoặc phục hồi cục bộ của thị trường thế giới, trong khi nền tảng năng lực cạnh tranh dài hạn chưa thực sự được cải thiện.
Đặc biệt, xu hướng “xanh hóa” thương mại toàn cầu đang tạo sức ép ngày càng lớn đối với nông sản xuất khẩu của Việt Nam. Các thị trường lớn như Liên minh châu Âu (EU), Hoa Kỳ, Nhật Bản liên tục nâng tiêu chuẩn về phát thải carbon, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, lao động và bảo vệ môi trường.
Nhiều quy định mới như cơ chế điều chỉnh carbon xuyên biên giới (CBAM), quy định chống mất rừng của EU (EUDR) hay các tiêu chuẩn liên quan đến sản xuất bền vững đang buộc doanh nghiệp Việt Nam phải thay đổi mạnh phương thức sản xuất và quản trị chuỗi cung ứng. Đây không chỉ là yêu cầu kỹ thuật đơn thuần mà đang trở thành “giấy thông hành” bắt buộc để hàng hóa có thể tiếp cận thị trường quốc tế trong giai đoạn tới.
Trong khi đó, phần lớn sản xuất nông nghiệp của Việt Nam hiện vẫn mang tính nhỏ lẻ, phân tán; liên kết giữa vùng nguyên liệu với doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu chưa chặt chẽ. Nhiều mặt hàng chưa xây dựng được hệ thống truy xuất nguồn gốc đồng bộ, tỷ lệ chế biến sâu còn thấp, năng lực dự báo thị trường và quản trị rủi ro còn hạn chế.
Xuất khẩu đồ gỗ và các sản phẩm từ gỗ tăng song đối diện nhiều tiêu chuẩn của thị trường. Ảnh: Phong Đỗ
Sự phụ thuộc lớn vào một số thị trường truyền thống cũng khiến xuất khẩu nông sản dễ bị tác động khi chính sách nhập khẩu thay đổi. Thực tế thời gian qua cho thấy, chỉ cần một động thái siết kiểm dịch hoặc thay đổi tiêu chuẩn kỹ thuật từ thị trường nhập khẩu, nhiều ngành hàng lập tức gặp khó khăn trong tiêu thụ.
Trước bối cảnh đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác định mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu thời gian tới phải chuyển mạnh từ “lượng” sang “chất”, lấy chất lượng, thương hiệu, tiêu chuẩn xanh và giá trị gia tăng làm nền tảng cạnh tranh.
Năm 2026, ngành gỗ và sản phẩm gỗ đặt mục tiêu đạt 17,7 tỷ USD; rau quả khoảng 9,81 tỷ USD; thủy sản phấn đấu vượt 12 tỷ USD; cà phê hướng tới 9,64 tỷ USD; hạt điều khoảng 5,42 tỷ USD. Các ngành hàng khác như chè, sắn và sản phẩm chăn nuôi cũng được kỳ vọng tiếp tục duy trì tăng trưởng.
Để hoàn thành mục tiêu này, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết sẽ triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, từ theo dõi sát diễn biến thị trường, hỗ trợ doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn về logistics, tín dụng, đến đẩy mạnh xúc tiến thương mại và mở rộng thị trường mới. Đồng thời, ngành nông nghiệp tiếp tục tái cơ cấu theo hướng nâng cao tỷ trọng chế biến sâu, phát triển vùng nguyên liệu đạt chuẩn, thúc đẩy chuyển đổi xanh và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, đặc biệt là các thị trường tiềm năng như: Halal, Trung Đông, châu Phi, Nam Mỹ.
Trong bối cảnh thương mại toàn cầu biến động nhanh và tiêu chuẩn nhập khẩu ngày càng khắt khe, yêu cầu đặt ra không còn đơn thuần là tăng kim ngạch xuất khẩu, mà quan trọng hơn là xây dựng được nền nông nghiệp hiện đại, minh bạch và phát triển bền vững. Chỉ khi vượt qua được “rào cản xanh”, nâng cao chất lượng và vị thế thương hiệu, nông sản Việt Nam mới có thể giữ vững năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Đỗ Minh