Xem lại kì 1: Ông Võ Hồng Phúc: Muốn tăng trưởng hai con số, Việt Nam buộc phải bứt phá về thể chế
Dấu ấn của Đại hội VI
Thưa ông, trước khi Đổi mới trở thành quyết định chính thức tại Đại hội VI, những “vết nứt” nào trong mô hình cũ – từ thực tiễn sản xuất đến bối cảnh quốc tế – đã tích tụ đủ để buộc hệ thống phải thay đổi?
Ông Võ Hồng Phúc: Chúng ta đã có mô hình khoán mười từ khoảng cuối những năm 1960, và đến đầu những năm 1980 thì mô hình này được nhân rộng, trở thành một cách làm mới trong nông nghiệp.
Cùng thời điểm đó, Liên Xô – chỗ dựa quan trọng của Việt Nam – bắt đầu gặp khó khăn. Các mầm mống cải tổ xuất hiện nhưng diễn ra dè dặt, không tạo ra thay đổi thực chất. Khi Liên Xô bước vào giai đoạn cải tổ đầy khó khăn, viện trợ và cung ứng vật tư cho Việt Nam không còn được như trước, khiến nền kinh tế trong nước lâm vào tình trạng rất căng thẳng.
Chính trong bối cảnh đó, các bộ, ngành – trong đó có Bộ Đầu tư – bắt đầu thúc đẩy những thay đổi từ bên trong: mở rộng kế hoạch hai, kế hoạch ba, cải cách đơn giá, từng bước loại bỏ các yếu tố bao cấp cũ và trao thêm quyền tự chủ kinh doanh cho các cơ sở. Đây là những chuyển động ban đầu của tư duy đổi mới trong công tác kế hoạch hóa.
Ông Võ Hồng Phúc: Đổi mới, suy cho cùng, là quá trình giải phóng tư duy
Đến năm 1986, khi Đại hội VI diễn ra, công cuộc Đổi mới mới thực sự trở thành một quyết định chính thức. Điều đáng nói là trong quá trình chuẩn bị Đại hội, các tài liệu ban đầu vẫn được xây dựng theo tư duy cũ, nặng về kế hoạch hóa và bao cấp.
Sau khi đồng chí Lê Duẩn qua đời, đồng chí Trường Chinh trên cương vị Tổng Bí thư đã sớm nhận ra những bất cập đó. Sau khi trực tiếp nghiên cứu các mô hình thực tiễn, đặc biệt trong nông nghiệp, đồng chí đã chỉ đạo điều chỉnh lại toàn bộ nội dung văn kiện. Chỉ trong một thời gian ngắn, các định hướng kinh tế quan trọng đã được sửa đổi.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư, với vai trò phụ trách lĩnh vực kinh tế, tham gia trực tiếp vào quá trình này, đặc biệt là việc xây dựng định hướng cho giai đoạn 1986–1990. Chính trong bối cảnh đó, khẩu hiệu “đổi mới toàn diện nền kinh tế” được hình thành.
Tại Đại hội VI, nhiều ý kiến phê phán gay gắt cách điều hành cũ, coi đó là nguyên nhân dẫn tới khủng hoảng tài chính – tiền tệ và khủng hoảng giá – lương – tiền trong các năm 1984–1985. Đại hội cũng chứng kiến một sự thay đổi lớn về nhân sự lãnh đạo, với một tập thể mới mang tư duy đổi mới rõ nét hơn. Đồng chí Nguyễn Văn Linh được bầu làm Tổng Bí thư; đồng chí Đỗ Mười giữ cương vị Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng; đồng chí Võ Văn Kiệt làm Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Bộ trưởng,…
Là người trực tiếp chứng kiến và trải qua thời kỳ đó, lại có thêm nhiều trải nghiệm sau này, ông có thấy con người là yếu quyết định cho Đổi mới?
Ở đây có thể thấy rất rõ một quá trình: quyết định được hình thành từ dưới đi lên. Khi cơ sở bức xúc quá, họ buộc phải tìm cách phá vỡ những ràng buộc cũ, “phá rào”, “xé rào” để tồn tại và phát triển.
Trong nông nghiệp, có những mô hình từ Vĩnh Phúc, La Ngà; trong công nghiệp, thương mại có những sáng kiến từ TP.HCM; trong lĩnh vực lương thực, thương mại có thể kể đến mô hình của bà Ba Thi. Tất cả đều cho thấy từ thực tiễn cơ sở đã xuất hiện những mầm mống đổi mới, khi người ta nhận ra rằng nếu không thay đổi thì không thể tiếp tục vận hành được. Họ đã chủ động thử nghiệm những cách làm mới.
Có điều phải nói là may mắn – của những người tiên phong đổi mới đó là họ gặp được một thế hệ lãnh đạo rất nhạy bén, rất nhạy cảm với thực tiễn. Như đồng chí Võ Văn Kiệt, khi đó là Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Bộ trưởng, hay đồng chí Trường Chinh trên cương vị Tổng Bí thư, và đồng chí Nguyễn Văn Linh – người sau này đảm nhiệm vai trò Tổng Bí thư – đều là những người có tư duy cởi mở, sẵn sàng tiếp nhận cái mới.
Quan trọng hơn, các đồng chí ấy không chỉ tiếp nhận, mà còn chỉ đạo rất quyết liệt việc sửa đổi từ công tác lý luận, xây dựng văn kiện Đại hội, cho đến việc tạo điều kiện để các mô hình từ cơ sở được phát triển, được nhân rộng.
Điểm ấn tượng nhất, theo tôi, chính là ở chỗ đó: xu thế đổi mới hình thành từ dưới lên, nhưng được cấp trên kịp thời tiếp nhận, ủng hộ và nâng lên thành mô hình chung cho cả nước.
Nhưng, như Văn kiện Đại hội VI nhận định, chúng ta đã lâm vào khủng hoảng bên trong, trong khi tình hình khó khăn gay gắt bên ngoài cũng tác động rất lớn?
Chúng ta thấy rằng nguồn lực trong nước lúc đó gần như đã cạn. Trong bối cảnh bị cấm vận hoàn toàn, Việt Nam hầu như chỉ có thể trông cậy vào khối các nước xã hội chủ nghĩa. Nhưng khi chính bản thân khối này cũng gặp nhiều khó khăn, nguồn viện trợ ngày càng bị thu hẹp, nên sức ép buộc chúng ta phải thay đổi rất lớn.
Khi bắt đầu đổi mới về kinh tế, theo tôi, một trong những bước đổi mới mạnh mẽ và có ý nghĩa nhất chính là đổi mới về đối ngoại. Tuy nhiên, trong lĩnh vực đối ngoại, chúng ta lại phải đối diện với thực tế là tiềm lực trong nước không đủ. Qua kinh nghiệm của nhiều nước đang phát triển, muốn tăng trưởng phải dựa thêm vào nguồn lực bên ngoài.
Trong khi đó, khối xã hội chủ nghĩa bắt đầu gặp khó khăn và dần hạn chế viện trợ cho Việt Nam. Điều này buộc chúng ta phải nghĩ ngay đến việc khai thác các nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài. Từ khoảng năm 1986, chúng tôi đã bắt đầu tiếp cận một số dự án, công ty nước ngoài để tìm cách thu hút họ đầu tư vào Việt Nam.
Chẳng hạn, một số công ty Nhật Bản đã vào Việt Nam khá sớm. Có doanh nghiệp vào với tên gọi chính thức, nhưng phần lớn các công ty Nhật khi đó đều phải thành lập công ty con hoặc sử dụng tên khác để vào Việt Nam, nhằm tránh các rào cản do lệnh cấm vận của Hoa Kỳ. Dù vậy, họ vẫn từng bước thâm nhập thị trường Việt Nam, trước hết là trong lĩnh vực thương mại.
Song song với đó, họ xúc tiến một số dự án đầu tư quy mô nhỏ, như các dự án chế biến gỗ, chế biến thực phẩm tại TP.HCM, hay một số dự án ở Quảng Ninh. Những dự án ban đầu này, dù còn khiêm tốn, nhưng đã mở ra cho chúng ta một hướng tiếp cận mới: thu hút đầu tư từ khu vực kinh tế tư nhân nước ngoài để phục vụ phát triển kinh tế trong nước.
Chính từ những bước đi đó, chúng ta dần hình thành nhận thức rõ ràng hơn về vai trò của vốn đầu tư nước ngoài, để rồi tiến tới xây dựng và ban hành Luật Đầu tư nước ngoài vào năm 1987.
Hội nhập với thế giới văn minh
Tức là, chỉ khi thừa nhận các thành phần kinh tế ngoài nhà nước trong quá trình Đổi mới, Việt Nam mới có thể thu hút được đầu tư nước ngoài?
Chắc chắn là như vậy. Trước đó, Việt Nam vẫn áp dụng mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, chỉ dựa vào doanh nghiệp nhà nước và như vậy, các đối tác nước ngoài không nhìn thấy con đường phát triển. Nhưng khi chúng ta bắt đầu công cuộc Đổi mới từ năm 1986, họ mới thực sự thấy cơ hội để quay lại.
Thời điểm đó, các doanh nghiệp Nhật Bản vào Việt Nam rất nhiều. Có những doanh nghiệp vào trực tiếp với tên của mình nhưng phần lớn không thể vào chính thức vì còn bị ràng buộc bởi lệnh cấm vận, nên họ phải lập công ty con hoặc sử dụng tên khác để vào Việt Nam tìm hiểu thị trường, nghiên cứu cơ hội đầu tư và kinh doanh.
Bản thân các tập đoàn Nhật khi đó không thể đứng tên trực tiếp, nhưng thông qua các công ty con, họ vẫn từng bước hiện diện tại Việt Nam. Chỉ có một vài doanh nghiệp Nhật vào theo con đường chính thức và sớm mở văn phòng đại diện tại Hà Nội. Thời điểm ấy, Việt Nam cũng có những chính sách ưu đãi nhất định, nên dần dần chúng ta thấy rõ tiềm lực rất lớn từ các doanh nghiệp Nhật Bản.
Chính vì vậy, Chính phủ đã cho phép thành lập một Ủy ban Hợp tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản, theo mô hình hợp tác kinh tế song phương mà Việt Nam từng triển khai với các nước Đông Âu trước đây. Phía Nhật Bản thành lập Ủy ban tương ứng, do một lãnh đạo doanh nghiệp lớn làm Chủ tịch.
Tôi là một trong những thành viên của Ủy ban này, đồng thời giữ cương vị Phó Vụ trưởng Vụ Công nghiệp, tham gia các tiểu ban chuyên ngành. Nhiệm vụ của chúng tôi là làm việc trực tiếp với phía Nhật Bản, giới thiệu cho họ các cơ hội đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam. Công việc này được triển khai ngay từ năm 1986 và kéo dài trong những năm sau đó.
Bài học về cải cách
Nếu nhìn lại toàn bộ quá trình cải cách trong 40 năm Đổi mới, theo ông, điều quan trọng nhất rút ra là gì? Có phải chính là việc thừa nhận sai lầm, từ đó công nhận sở hữu đa dạng và cho phép các thành phần kinh tế cùng tham gia phát triển?
Phải nói rằng, trong công cuộc Đổi mới, chúng ta đã đưa ra nhiều quyết sách rất đúng đắn, có ý nghĩa cho cả một thời kỳ dài. Tuy nhiên, vấn đề nằm ở chỗ lộ trình thực hiện những quyết sách đó đi khá chậm.
Chẳng hạn, việc thừa nhận các thành phần kinh tế và xác định kinh tế tư nhân là một động lực của nền kinh tế là một quá trình đấu tranh rất dài. Trong một thời gian rất lâu, khi nói đến vai trò của các khu vực kinh tế, bao giờ cũng khẳng định kinh tế nhà nước là chủ đạo, còn kinh tế tư nhân chỉ được coi là thứ yếu. Phải đến tận những năm gần đây, chúng ta mới chính thức xác định kinh tế tư nhân là “một động lực quan trọng nhất” của nền kinh tế.
Nhìn lại, có thể thấy Đổi mới là một quá trình đúng hướng, nhưng nhiều bước đi đã chậm hơn so với yêu cầu của thực tiễn. Đây là một bài học rất lớn cho công tác cải cách trong giai đoạn tiếp theo.
Nếu ngay từ đầu, việc mở cửa được thực hiện rõ ràng hơn, quyết liệt hơn, tôn trọng vai trò của kinh tế tư nhân hơn, thì kết quả có lẽ đã khác. Thực tế, chúng ta đã chọn cách mở dần dần, từng bước một, và điều đó khiến nhiều cơ hội bị bỏ lỡ.
Một ví dụ điển hình là câu chuyện cho phép đảng viên làm kinh tế tư nhân. Đây là vấn đề đã phải tranh luận rất lâu mới đi đến được quyết định cuối cùng. Có thời kỳ, tranh cãi rất gay gắt về việc đảng viên có được làm kinh tế tư nhân hay không.
Nhưng nếu nhìn thẳng vào thực tế, rõ ràng những người có trình độ, có tri thức, có năng lực quản lý – những người được coi là “nguồn lực chất lượng cao” của xã hội – phần lớn đều là đảng viên. Nếu không cho đảng viên tham gia làm kinh tế tư nhân, vô hình trung chúng ta đã loại trừ một bộ phận rất lớn những người có năng lực khỏi quá trình phát triển kinh tế.
Chính vì vậy, đã có những giai đoạn nhiều người đấu tranh rất quyết liệt để mở ra hướng đi này. Tôi nhớ rằng phải đến cuối khóa VIII, đầu khóa IX, vấn đề này mới bắt đầu được chấp nhận từng bước. Sau đó, đến đầu khóa X, mới chính thức cho phép đảng viên làm kinh tế tư nhân và tiến tới việc thành lập tổ chức Đảng, chi bộ Đảng trong các doanh nghiệp tư nhân.
Trong quá trình đó, có nhiều cán bộ lãnh đạo địa phương rất năng động, rất quyết liệt ủng hộ chủ trương này. Tôi nhớ những ý kiến phát biểu thẳng thắn, mạnh mẽ của một số Bí thư Tỉnh ủy như ở Hà Giang, Thái Nguyên… những người đã lên tiếng rõ ràng tại các hội nghị Trung ương để ủng hộ việc cho phép đảng viên làm kinh tế tư nhân.
Nhìn lại, có thể thấy Đổi mới là một quá trình đúng hướng, nhưng nhiều bước đi đã chậm hơn so với yêu cầu của thực tiễn. Đây là một bài học rất lớn cho công tác cải cách trong giai đoạn tiếp theo.
Và đâu là những bài học quan trọng nhất trong suốt 40 năm Đổi mới, thưa ông?
Theo tôi, bài học lớn nhất là chúng ta phải vượt qua được những rào cản lý luận đã ăn sâu trong tư duy suốt nhiều thập kỷ.
Những lý luận cũ, những cách nghĩ cũ đã hằn rất sâu trong nhận thức của nhiều thế hệ, từ hệ thống giáo dục, từ trường lớp, từ đào tạo cán bộ, qua đời này sang đời khác. Người ta học đi học lại, lặp đi lặp lại, đến mức nó trở thành một khuôn mẫu tư duy rất khó phá vỡ.
Muốn đổi mới thực sự, phải dám gạt bỏ những lý luận giáo điều, xa rời thực tiễn. Phải lấy thực tiễn làm thước đo để kiểm nghiệm lý luận đúng hay sai. Lý luận nào đã được thực tiễn kiểm chứng là đúng, là phù hợp với sự phát triển của đất nước, thì phải mạnh dạn tiếp thu và áp dụng.
Đổi mới, suy cho cùng, là quá trình giải phóng tư duy, là dám vượt qua chính những rào cản trong đầu mình để xây dựng một thể chế và một mô hình phát triển mới, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế chung của thời đại.
Giữ tinh thần Đổi mới
Có một câu chuyện xin được trao đổi lại với ông. Tại Đại hội XI, ông đã có phát biểu rất thẳng thắn và đầy trách nhiệm về vấn đề quan hệ sản xuất, đặc biệt là về công hữu tư liệu sản xuất. Khi đó, dự thảo văn kiện muốn quay lại công hữu tư liệu sản xuất. Vì sao ông lại kiên quyết bảo vệ việc thay đổi điều này trong dự thảo đến vậy?
Thực chất, vấn đề này bắt nguồn từ Cương lĩnh năm 2000, khi xác định đặc trưng của chủ nghĩa xã hội là quan hệ sản xuất được định nghĩa gắn chặt với chế độ công hữu về tư liệu sản xuất.
Tuy nhiên, đến giai đoạn chuẩn bị Đại hội X và Đại hội XI, chúng tôi – những người tham gia nhóm chuẩn bị văn kiện, đặc biệt là nhóm kinh tế – đã đấu tranh rất quyết liệt về vấn đề này. Quan điểm của chúng tôi là cương lĩnh có thể chưa sửa ngay được, nhưng trong văn kiện Đại hội nhất định phải nêu bật tinh thần mới, để làm cơ sở cho việc sửa đổi về sau.
Chính vì vậy, trong Nghị quyết và Văn kiện Đại hội X, đã có một thay đổi rất quan trọng: khi nói về đặc trưng của chủ nghĩa xã hội trong quan hệ sản xuất, không còn nhấn mạnh công hữu tư liệu sản xuất nữa, mà chuyển sang khẳng định đó là quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Điều này là rất cần thiết, bởi mô hình công hữu cứng nhắc đã không còn phù hợp. Thực tế các nước Đông Âu sụp đổ đã cho thấy cách tiếp cận cũ không còn đứng vững.
Đến giai đoạn chuẩn bị Đại hội XI, vấn đề đặt ra là có sửa lại cương lĩnh hay không. Trong nhóm chuẩn bị, chúng tôi – đặc biệt là nhóm kinh tế – đề nghị giữ nguyên tinh thần đổi mới của Đại hội X, tức là tiếp tục cách tiếp cận mới về quan hệ sản xuất. Tuy nhiên, một nhóm khác, chủ yếu là nhóm soạn thảo Báo cáo Chính trị, lại muốn quay về cách diễn đạt cũ của Cương lĩnh năm 2000.
Kết quả là trong dự thảo, hai báo cáo có những điểm không thống nhất với nhau. Chúng tôi cho rằng không thể xóa bỏ thành quả tư duy của Đại hội X – nơi đã kết tinh rất nhiều trí tuệ và tinh thần đổi mới – chỉ để quay lại cách hiểu cũ.
Thời điểm đó, Thủ tướng Phan Văn Khải là người rất ủng hộ đổi mới. Tôi thuộc nhóm kiên quyết bảo vệ tinh thần của Đại hội X, coi đây là một bước tiến lớn về nhận thức lý luận.
Muốn đổi mới thực sự, phải dám gạt bỏ những lý luận giáo điều, xa rời thực tiễn. Phải lấy thực tiễn làm thước đo để kiểm nghiệm lý luận đúng hay sai. Lý luận nào đã được thực tiễn kiểm chứng là đúng, là phù hợp với sự phát triển của đất nước, thì phải mạnh dạn tiếp thu và áp dụng.
Tại Hội nghị Trung ương 14, tôi đã đề nghị đưa vấn đề này ra biểu quyết. Kết quả biểu quyết trong Trung ương khi đó là tôi không đạt đa số, tỷ lệ ủng hộ chỉ khoảng 46%, còn phía giữ quan điểm cũ chiếm khoảng 54%. Vì vậy, các văn kiện chính thức trình Đại hội XI vẫn giữ cách tiếp cận theo Cương lĩnh năm 2000, chưa tiếp thu đầy đủ tinh thần đổi mới của Đại hội X.
Tuy nhiên, khi ra Đại hội, tôi nhận thấy xu hướng của đại biểu rất rõ ràng: nhiều ý kiến ủng hộ việc tiếp tục giữ tinh thần đổi mới của Đại hội X. Tôi cho rằng Đại hội không thể làm ngơ trước thành quả đã đạt được.
Vì vậy, khi được cử phát biểu tại Đại hội, tôi đã trình bày bốn bài học lớn từ nhiệm kỳ trước, trong đó bài học đầu tiên là phải có đường lối đúng đắn. Và trong đường lối đó, vấn đề cốt lõi là phải định nghĩa rõ đặc trưng của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đặc biệt là trong quan hệ sản xuất, theo tinh thần đổi mới đã được khẳng định trước đó.
Tôi đề nghị Đại hội cho biểu quyết lại nội dung này. Chủ tịch đoàn đã đồng ý đưa ra biểu quyết. Kết quả là đa số đại biểu đã ủng hộ quan điểm đổi mới, với tỷ lệ khoảng 53–54%, cao hơn số ý kiến giữ cách tiếp cận cũ.
Cuối cùng, tinh thần đổi mới của Đại hội X đã được giữ lại và thể hiện trong văn kiện Đại hội XI. Tôi cho rằng đó là một minh chứng rất rõ cho tinh thần làm việc dân chủ của Đại hội: dù dự thảo văn kiện đã chuẩn bị xong, nhưng khi ra Đại hội, đại biểu vẫn thảo luận, vẫn tranh luận và vẫn có thể sửa đổi để đi đến quyết định hợp lý nhất.
Theo ông, hệ lụy có thể là gì nếu lúc đó Đại hội vẫn giữ nguyên nội dung như dự thảo ban đầu? Khi đó, liệu các nhà đầu tư nước ngoài có còn tin tưởng không?
Nếu giữ nguyên như dự thảo ban đầu, thì không chỉ nhà đầu tư nước ngoài, mà cả nhà đầu tư tư nhân trong nước cũng sẽ đặt dấu hỏi lớn.
Nhà đầu tư nhìn vào đó sẽ nghi ngờ: liệu họ có thực sự được thừa nhận, có được bảo đảm về quyền sở hữu, quyền đầu tư hay không. Nếu còn sự mập mờ, nếu vẫn nhấn mạnh những cách hiểu cũ, thì ai dám bỏ vốn đầu tư dài hạn?
Lập luận của tôi rất rõ: muốn thu hút đầu tư, trước hết phải tạo được niềm tin. Niềm tin đó không chỉ dành cho nhà đầu tư nước ngoài, mà cả cho khu vực kinh tế tư nhân trong nước. Nếu không tạo được niềm tin thể chế, thì không thể có đầu tư, càng không thể có phát triển bền vững.
Chính vì vậy, tôi đã dùng lập luận đó để thuyết phục các đại biểu tại Đại hội. Và tôi cho rằng đó cũng là lý do quan trọng khiến nhiều đại biểu Đại hội XI ủng hộ quan điểm của tôi.
Khi nền kinh tế phát triển nóng, trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vai trò cân đối vĩ mô trở nên vô cùng quan trọng. Ảnh: Hoàng Hà
Ưu tiên giữ ổn định kinh tế vĩ mô
Thưa ông, trong giai đoạn đó, ở cấp lãnh đạo cao nhất đã có những khát vọng tăng trưởng cao hay không?
Phải nói là lúc nào chúng ta cũng có khát vọng tăng trưởng cao. Nhưng khát vọng đó luôn đi kèm với yêu cầu phải hợp lý và khả thi.
Thời kỳ đó, các mục tiêu tăng trưởng đều được cân nhắc rất kỹ, dựa trên các cân đối vĩ mô, tiềm lực của nền kinh tế và kinh nghiệm tăng trưởng của những thập kỷ trước. Tôi nhớ rằng các kế hoạch 5 năm thường đặt mục tiêu tăng trưởng khoảng 7–8%, nhiều nhất là 7,5–8%. Chưa bao giờ chúng ta dám đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số cho cả một giai đoạn dài.
Ngay cả trong những năm tăng trưởng rực rỡ nhất, như giai đoạn 1995–1996, thì mức tăng trưởng cao nhất cũng chỉ đạt khoảng 9,5%, và đó là từng năm riêng lẻ. Nếu tính bình quân cả giai đoạn 5 năm, thì mức tăng trưởng ổn định nhất cũng chỉ khoảng trên 7,5%.
Có thể có những năm tăng trưởng rất cao, 8–9%, nhưng khi tính bình quân cho cả chu kỳ 5 năm thì con số luôn thấp hơn. Cách tiếp cận của chúng ta khi đó là như vậy: ưu tiên sự ổn định và tính bền vững.
Hồi đó, ông đã công bố con số tăng trưởng tín dụng 53% tại kỳ họp tháng 5/2008 ở Quốc hội, khiến Thủ tướng “giật mình”. Trong bối cảnh nền kinh tế đang phát triển nóng, vì sao ông cho rằng cần phải nói ra con số này, và điều đó phản ánh cách tiếp cận điều hành vĩ mô như thế nào?
Khi nền kinh tế phát triển nóng, trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vai trò cân đối vĩ mô trở nên vô cùng quan trọng. Thị trường có thể vận hành tự do, nhưng phải có người làm nhiệm vụ điều tiết, bảo đảm tăng trưởng diễn ra cân bằng và đúng định hướng.
Ví dụ giai đoạn phát triển kinh tế rất nóng trong nhiệm kỳ 2006–2010, khi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng điều hành Chính phủ. Ngay từ đầu nhiệm kỳ, khoảng các năm 2006–2007, chúng ta bắt đầu mở rộng mạnh đầu tư phát triển, đặc biệt là trong lĩnh vực bất động sản. Đây cũng là giai đoạn Việt Nam gia nhập WTO, buộc phải mở cửa thị trường sâu rộng hơn.
Trong bối cảnh đó, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã có những đóng góp rất tích cực, vừa trong việc xây dựng kế hoạch 5 năm, vừa trong công tác điều hành hằng năm. Đến năm 2008, khi Hà Nội được mở rộng địa giới hành chính, làn sóng đầu tư bất động sản bùng lên rất mạnh, kéo theo tăng trưởng tín dụng ở mức rất cao.
Tôi nhớ có một kỳ họp năm 2008, chúng tôi phát hiện ra một dấu hiệu bất thường. Thông thường, tăng trưởng tín dụng chỉ cao gấp khoảng hai đến ba lần tốc độ tăng trưởng GDP. Khi đó, GDP tăng khoảng 22–25%, nhưng tăng trưởng tín dụng được báo cáo đã lên tới 43%.
Con số này được báo cáo lên Chính phủ. Khi nguy cơ lạm phát bùng phát, chỉ số giá tăng nhanh, chúng tôi tiến hành kiểm tra lại và cùng với Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước rà soát lại số liệu.
Kết quả cho thấy tăng trưởng tín dụng thực tế lên tới 53%.
Đây chính là giai đoạn lạm phát bùng phát mạnh. Từ thực tế đó, trong chương trình hành động thực hiện kế hoạch năm 2011, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tham gia xây dựng và đề xuất Nghị quyết 11 của Chính phủ về ổn định kinh tế vĩ mô và kiềm chế lạm phát.
Nghị quyết 11 được ban hành với mục tiêu trung tâm là ổn định kinh tế vĩ mô, coi đây là điều kiện tiên quyết để đưa nền kinh tế trở lại quỹ đạo tăng trưởng hợp lý và bền vững.
Tư Giang
Lan Anh