Chúng ta không thể đi “tằng tằng”
Sau Đại hội XIV, Việt Nam đã bước vào “kỷ nguyên mới” với tăng trưởng hai con số. Thưa ông, nếu chúng ta không theo đuổi mục tiêu tăng trưởng cao, thì cơ hội phát triển để vươn lên quốc gia thu nhập cao có thể trôi qua, nhất là khi thời kỳ dân số vàng chỉ còn hơn chục năm nữa. Ông nhìn nhận như thế nào về mục tiêu đó?
Ông Võ Hồng Phúc: Tôi hoàn toàn ủng hộ mục tiêu mà Đại hội XIV của Đảng đã đề ra: xây dựng một kỷ nguyên phát triển mới cho Việt Nam.
Nếu chúng ta cứ đi chậm chậm, đều đều như trước đây thì sẽ không có gì thay đổi, không thể tạo ra bước phát triển đột phá. Các nước xung quanh chúng ta không đứng yên. Tôi nhớ trước đây, thời Thủ tướng Võ Văn Kiệt, có lúc chúng ta đặt mục tiêu phấn đấu đạt mức phát triển ngang Thái Lan. Nhưng vấn đề là khi mình tiến gần đến họ, thì họ lại tiếp tục đi xa hơn.
Ông Võ Hồng Phúc: Khi đã quyết thì phải tập trung hành động. Chính hành động mới tạo ra kết quả
Vì vậy, nếu không có một sự bứt phá thật sự, chúng ta sẽ không bao giờ đuổi kịp. Cứ đi “tằng tằng” thì khi mình tiến lên một bước, người khác đã tiến lên hai bước. Muốn thay đổi vị thế, bắt buộc phải có một cách làm quyết liệt hơn, một bước nhảy mạnh hơn.
Tôi cho rằng hướng đi mà Tổng Bí thư Tô Lâm đã nêu – mở ra một kỷ nguyên mới, một thời kỳ phát triển mới – là rất đúng. Nhưng muốn đạt được mục tiêu đó thì phải đầu tư mạnh mẽ, phải có cách làm khác trước và đặc biệt là phải hành động quyết liệt. Đây cũng chính là mong muốn chung của người dân.
Tinh thần quyết liệt đó đang được thể hiện như thế nào trong thực tế, theo ông?
Thực ra, sau Đại hội XIV, tôi có quan sát và thấy đã xuất hiện một số tín hiệu tích cực. Tôi lấy một ví dụ cụ thể ở Hà Nội là đường La Thành.
Nếu ai sống lâu năm ở Hà Nội đều biết, con đường này đã được nhắc đến từ những năm 1990. Qua nhiều đời lãnh đạo, từng đoạn đã được mở, nhưng cuối cùng vẫn không thể làm dứt điểm. Lý do rất nhiều, chủ yếu xoay quanh giải phóng mặt bằng, thủ tục, đền bù…
Trong khi thực tế, nếu làm từ sớm thì chi phí giải tỏa rất thấp. Phần lớn đất dọc tuyến khi đó còn là đất nông nghiệp, chưa phải đất thổ cư, giá trị đền bù không cao. Đây là một trục giao thông huyết mạch của Hà Nội, một con đường bao quan trọng, nhưng vì sự chần chừ, nấn ná nên cơ hội bị bỏ lỡ.
Sau Đại hội XIV đã xuất hiện một số tín hiệu tích cực
Bây giờ, khi lãnh đạo mới vào cuộc và làm rất quyết liệt, mới thấy rằng những việc tưởng như “không làm được” trước đây hóa ra vẫn có thể làm được. Nếu làm sớm hơn, chi phí chắc chắn còn thấp hơn rất nhiều.
Ví dụ đó cho thấy một điều rất rõ: khi đã xác định mục tiêu, thì phải hành động. Và hành động thì phải đủ quyết liệt, phải làm đến nơi đến chốn.
Trên thực tế còn nhiều ví dụ khác nữa.
Tôi tin rằng đó cũng chính là kỳ vọng và niềm tin mà người dân đang gửi gắm vào nhiệm kỳ mới, vào lãnh đạo mới, và vào kết quả của Đại hội XIV.
Quyết liệt hành động
Nhìn vào thực tiễn không chỉ có dự án vành đai, mà còn rất nhiều dự án khác bị ách tắc trong thời gian dài. Theo các thống kê, hiện có hơn 3.000 dự án tồn đọng, với tổng vốn lên tới khoảng 2,4 triệu tỷ đồng. Nếu có hành động quyết liệt để tháo gỡ toàn bộ những nút thắt này, liệu Việt Nam có thể tăng tốc phát triển nhanh hơn không?
Đúng là như vậy. Đây chính là những lực cản rất lớn đối với phát triển.
Tôi cho rằng hướng đi mà Tổng Bí thư Tô Lâm đã nêu – mở ra một kỷ nguyên mới là rất đúng. Nhưng muốn đạt được mục tiêu đó thì phải đầu tư mạnh mẽ, phải có cách làm khác trước và đặc biệt là phải hành động quyết liệt. Đây cũng là mong muốn chung của người dân.
Một nguyên nhân quan trọng nằm ở cơ chế vận hành của chúng ta, vốn thiên về đồng thuận. Từ trước đến nay, chúng ta thường bàn rất nhiều: bàn ở hội đồng này, nếu có ý kiến khác sẽ lại bàn lại ở cấp khác, rồi tiếp tục cân nhắc ở thành ủy, tỉnh ủy… Khi có ý kiến trái chiều là chùn lại, thiếu quyết liệt.
Theo tôi, đến giai đoạn này, chúng ta vẫn thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ: dân chủ phải bàn kỹ, bàn đầy đủ; nhưng khi đã quyết định rồi thì phải tập trung thực hiện cho bằng được. Người đứng đầu phải chịu trách nhiệm, phải dám quyết và dám làm. Chỉ có như vậy mới giải quyết được những vấn đề lớn đang tồn tại.
Thực tế, không chỉ Việt Nam, nhiều quốc gia khác cũng vậy. Nhìn vào Hàn Quốc thời Tổng thống Park Chung-hee hay Singapore thời ông Lý Quang Diệu, có thể thấy họ phát triển rất nhanh bởi vì có sự tập trung quyền lực đi kèm với quyết đoán trong chỉ đạo và điều hành. Khi đã có ý chí thống nhất và quyết tâm chính trị đủ lớn, những vấn đề nan giải của đất nước phải được xử lý dứt điểm.
Vậy theo ông, Việt Nam hiện nay có còn cơ hội để tạo ra một bước phát triển tương tự hay không?
Tôi cho rằng Việt Nam vẫn còn rất nhiều cơ hội.
Người Việt Nam có những lợi thế mà không phải quốc gia nào trong khu vực cũng có. Tôi đã tiếp xúc với nhiều đối tác quốc tế, và họ đều đánh giá người Việt Nam thông minh, nhanh nhạy, có khả năng tiếp thu rất tốt.
Bên cạnh đó, chúng ta có truyền thống là một quốc gia thống nhất từ rất sớm, với lịch sử hàng nghìn năm hình thành và phát triển. Ý chí tự cường, khát vọng phát triển đất nước đã được hun đúc qua nhiều thế hệ. Trong khi đó, nhiều quốc gia khác trong khu vực có cấu trúc xã hội và lịch sử rất khác, thậm chí phân tán, nhưng họ vẫn phát triển được.
Người Việt Nam có những lợi thế mà không phải quốc gia nào trong khu vực cũng có. Ảnh: Hoàng Hà
Vấn đề của Việt Nam là phải tận dụng được thời cơ. Hiện nay, chúng ta vẫn đang ở giai đoạn dân số vàng, nhưng lợi thế này sẽ không kéo dài. Chỉ khoảng 10 năm nữa, cơ cấu dân số sẽ thay đổi, và khi đó cơ hội sẽ hẹp đi rất nhiều.
Nếu không chớp lấy thời cơ hiện tại để bứt phá, chúng ta rất dễ bỏ lỡ nhịp phát triển và đối mặt với nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình. Đây là điều mà chúng ta phải nhìn rất thẳng thắn và hành động kịp thời.
Nhưng suy cho cùng, điều cốt lõi vẫn là phải cởi mở và khơi thông toàn bộ nguồn lực trong dân, có đúng không thưa ông?
Đúng như vậy. Phải khai thác tối đa nguồn lực trong dân, bởi đây mới là nguồn lực lớn nhất của đất nước. Không chỉ Việt Nam mà bất kỳ quốc gia nào cũng vậy.
Phát triển không thể chỉ dựa vào một bộ phận nào đó. Phát triển phải bắt đầu từ từng người dân, từ mỗi cá nhân có điều kiện làm ăn, sáng tạo, đầu tư và đóng góp cho sự phát triển chung. Chỉ khi toàn xã hội cùng được tham gia, cùng hướng về một mục tiêu chung, đất nước mới có thể phát triển nhanh và bền vững.
Khai phóng tư duy
Báo cáo Chính trị Đại hội XIV nêu rất rõ: “Xác lập mô hình tăng trưởng mới với mục tiêu là nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế; lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính;…”. Tức là Việt Nam không thể tiếp tục phát triển theo mô hình cũ, dựa vào thâm dụng vốn, khai thác tài nguyên, lao động giá rẻ.
Tuy nhiên, để đổi mới sáng tạo, kinh tế số trở thành động lực, chúng ta dường như cần một cách tiếp cận khác về thể chế để nó vận hành hiệu quả. Ví dụ như con người phải được tự do hơn trong sáng tạo, trong phát minh; quyền tài sản, quyền sở hữu trí tuệ cũng phải được bảo đảm mạnh mẽ hơn… Vậy theo ông, điều này có đòi hỏi chúng ta phải thay đổi sâu về thể chế hay không?
Đúng là như vậy. Chúng tôi cho rằng phát triển trong giai đoạn này phải dựa chủ yếu vào khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Nhưng muốn có sáng tạo, phải tạo điều kiện cho từng cá nhân: có không gian, có môi trường và có động lực để sáng tạo.
Vấn đề cốt lõi ở đây chính là khai phóng. Khai phóng tư duy, giải phóng suy nghĩ của mỗi con người là điều vô cùng quan trọng. Nếu tư duy còn bị bó buộc, nếu con người còn e dè, sợ sai, sợ rủi ro, thì rất khó có sáng tạo thực chất.
Vì vậy, cần có một định hướng rõ ràng để tập hợp và phát huy được lực lượng sáng tạo trong xã hội. Muốn khơi dậy tiềm năng sáng tạo của con người, phải có những giải pháp cụ thể, phải có sự cởi mở về thể chế, và đặc biệt là phải có các cơ chế khuyến khích đủ mạnh để người dân và doanh nghiệp dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới.
Trung tâm Đổi mới Sáng tạo Quốc gia được hình thành, các Mạng lưới Đổi mới sáng tạo để kết nối với các chuyên gia ngành công nghệ chiến lược toàn cầu cũng đã được thành lập. Theo ông, những nỗ lực như vậy đã đủ chưa và còn cần gì khác?
Tôi cho rằng như vậy là chưa đủ. Đổi mới sáng tạo không thể chỉ dừng lại ở việc xây dựng một vài cơ sở vật chất, một vài trung tâm hay một số tòa nhà.
Thể chế phải đủ cởi mở, đủ tin cậy để quy tụ, kết nối và phát huy được trí tuệ của người Việt Nam, ở trong nước cũng như ở nước ngoài. Mô hình cụ thể có thể còn phải tiếp tục tìm tòi, nhưng nguyên tắc là phải huy động được toàn bộ nguồn lực trí tuệ của dân tộc.
Cốt lõi của đổi mới sáng tạo là con người. Và không chỉ một vài cá nhân đơn lẻ, mà phải là cả đội ngũ lớn, cả cộng đồng rộng, một tầng lớp trí thức đủ đông và đủ không gian để phát huy năng lực. Chỉ khi có một lực lượng sáng tạo đủ lớn thì đổi mới sáng tạo mới trở thành động lực thực sự cho phát triển.
Đổi mới sáng tạo không nằm ở một số thiết bị hay công trình, mà nằm ở việc xây dựng con người: tạo điều kiện cho từng cá nhân, động viên từng con người, và quan trọng hơn là tập hợp được toàn bộ tầng lớp trí thức của Việt Nam vào quá trình phát triển chung.
Vì vậy, yếu tố then chốt ở đây vẫn là môi trường thể chế và môi trường pháp lý. Thể chế phải đủ cởi mở, đủ tin cậy để quy tụ, kết nối và phát huy được trí tuệ của người Việt Nam, ở trong nước cũng như ở nước ngoài. Mô hình cụ thể có thể còn phải tiếp tục tìm tòi, nhưng nguyên tắc là phải huy động được toàn bộ nguồn lực trí tuệ của dân tộc.
Nếu không làm được điều đó, rất khó nói đến tăng trưởng hai con số. Bởi nếu tiếp tục dựa vào mô hình cũ mà chúng ta đang muốn từ bỏ – khai thác tài nguyên, lao động giá rẻ – sẽ không thể duy trì tăng trưởng cao trong dài hạn. Tài nguyên đã dần cạn, lợi thế lao động cũng đang thu hẹp, dân số đang bước qua thời kỳ vàng.
Vì vậy, chúng ta buộc phải đi nhanh và chuyển hướng nhanh. Con đường dựa vào đổi mới sáng tạo và kinh tế tri thức không còn là lựa chọn, mà là con đường bắt buộc nếu Việt Nam muốn phát triển bền vững trong giai đoạn tới.
Ông có thực sự tin vào năng lượng và năng lực của người Việt Nam hay không?
Tôi tin. Và niềm tin đó không phải là cảm tính, mà dựa trên những gì tôi trực tiếp chứng kiến.
Trong quá trình tiếp xúc với các nhà đầu tư nước ngoài, họ đều đánh giá rất cao trí tuệ, trình độ, khả năng tiếp thu nhanh và đặc biệt là khát vọng vươn lên của người Việt Nam. Điều này không chỉ đúng trong nước mà còn thể hiện rất rõ ở cộng đồng người Việt ở nước ngoài.
Đổi mới sáng tạo không nằm ở một số thiết bị hay công trình, mà nằm ở việc xây dựng con người
Tôi lấy một ví dụ rất cụ thể. Có những nhóm lưu học sinh Việt Nam sang Nhật Bản theo các chương trình đào tạo, sau đó ở lại lập nghiệp. Ban đầu chỉ vài người, nhưng dần dần họ tập hợp được hàng trăm kỹ sư, xây dựng nên những doanh nghiệp công nghệ hoạt động rất hiệu quả. Thủ tướng Nhật Bản thậm chí đã trực tiếp đến thăm và động viên ngay từ những ngày đầu. Đến nay, các doanh nghiệp này không chỉ đứng vững tại Nhật Bản mà còn mở rộng đầu tư sang nhiều quốc gia khác, và đã trở thành những công ty phần mềm lớn, có hoạt động cả ở Việt Nam.
Điều đáng suy nghĩ là vì sao họ lại phát triển tốt như vậy ở nước ngoài. Theo chính những người trong cuộc, môi trường ở đó buộc họ phải liên tục đổi mới, phải đưa cái mới vào thay cho những cách làm cũ. Họ tiếp thu rất nhanh các công nghệ, các phương thức quản trị hiện đại, và khi áp dụng vào môi trường kinh doanh quốc tế lại phát huy rất tốt.
Nhiều người Nhật thậm chí cũng thừa nhận rằng họ cần học sự nhanh nhạy, linh hoạt của người Việt để thích ứng với làn sóng phát triển mới của khoa học – công nghệ và trí tuệ nhân loại.
Nhưng khi quay về Việt Nam, vấn đề lại nảy sinh. Tôi vẫn cho rằng nút thắt lớn nhất hiện nay là thể chế và luật pháp. Người Việt có năng lực, có ý tưởng, nhưng lại gặp rất nhiều rào cản khi muốn khởi nghiệp ngay trong nước.
Không phải ngẫu nhiên mà nhiều startup của người Việt chọn sang Singapore để đăng ký, gọi vốn và phát triển. Không phải vì họ không muốn làm ở Việt Nam, mà vì thủ tục ban đầu ở ta còn quá phức tạp, chưa đủ cởi mở, đặc biệt là trong các khâu hành chính ở cấp thấp.
Ở Việt Nam, việc thành lập doanh nghiệp, xin giấy phép, thử nghiệm sản phẩm mới, tiếp cận vốn… vẫn rất khó khăn. Trong khi ở những nước như Nhật Bản hay Singapore, môi trường kinh doanh minh bạch, thủ tục gọn nhẹ, tạo điều kiện để doanh nghiệp nhanh chóng đi vào hoạt động và đưa sản phẩm ra thị trường.
Vì vậy, nếu không thay đổi mạnh mẽ thể chế, không cải cách thực chất thủ tục hành chính – nhất là ở giai đoạn khởi đầu – chúng ta sẽ rất khó giữ được những người giỏi, và càng khó tận dụng được năng lực, năng lượng rất lớn của người Việt Nam.
Tăng trưởng trên nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định
Khi nói đến mục tiêu tăng trưởng hai con số, các văn kiện đều đồng thời nhấn mạnh yêu cầu giữ ổn định kinh tế vĩ mô và các cân đối lớn của nền kinh tế. Điều này đặt ra một thách thức rất lớn. Theo ông, liệu Việt Nam có thể đạt tăng trưởng cao nếu vẫn dựa vào mô hình cũ: mở rộng tín dụng, mở rộng đầu tư và khai thác tài nguyên giá rẻ hay không? Mô hình này còn dư địa nữa không?
Thực ra, tăng trưởng lúc nào cũng cần đầu tư. Có đầu tư mới có tăng trưởng. Nhưng vấn đề cốt lõi là đầu tư như thế nào cho hợp lý.
Nếu vẫn tiếp tục đầu tư theo cách cũ thì chúng ta không thể đạt được tăng trưởng hai con số. Hiện nay, hiệu quả đầu tư của Việt Nam còn thấp. Chỉ số ICOR của chúng ta đang ở mức khoảng 6–6,5. Nghĩa là muốn tăng trưởng GDP thêm 1%, thì phải tăng vốn đầu tư tới hơn 6%.
Nếu đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số mà vẫn giữ mức ICOR như vậy, tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng vốn đầu tư sẽ phải tăng gấp nhiều lần. Điều đó là không khả thi và sẽ gây mất ổn định kinh tế vĩ mô, đẩy lạm phát và rủi ro tài chính lên rất cao.
Trong khi đó, ở nhiều nền kinh tế phát triển hoặc những nền kinh tế tăng trưởng cao và hiệu quả, chỉ số ICOR chỉ khoảng 3–4. Như vậy, hiệu quả đầu tư của chúng ta hiện nay thấp hơn gần gấp đôi. Đây là vấn đề buộc phải nhìn thẳng và xử lý.
Cốt lõi của đổi mới sáng tạo là con người. Và không chỉ một vài cá nhân đơn lẻ, mà phải là cả đội ngũ lớn, cả cộng đồng rộng, một tầng lớp trí thức đủ đông và đủ không gian để phát huy năng lực. Chỉ khi có một lực lượng sáng tạo đủ lớn thì đổi mới sáng tạo mới trở thành động lực thực sự cho phát triển.
Muốn tăng trưởng cao mà vẫn ổn định, phải nâng cao hiệu quả đầu tư. Và con đường quan trọng nhất là mở rộng không gian cho đầu tư tư nhân, đặc biệt là đầu tư tư nhân trong nước.
Khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa chính là nguồn lực rất lớn cho tăng trưởng, nhưng lâu nay chưa được khai thác đúng mức. Nhiều nước dựa vào các tập đoàn lớn để dẫn dắt tăng trưởng, nhưng Việt Nam hiện nay vẫn chưa hình thành được những tập đoàn công nghiệp đủ mạnh, có khả năng cạnh tranh toàn cầu như ở Hàn Quốc hay Nhật Bản.
Những tập đoàn lớn của chúng ta hiện có phần nhiều vẫn xoay quanh bất động sản, đất đai, tài chính – những lĩnh vực có chu kỳ ngắn, không tạo nền tảng tăng trưởng bền vững. Trong khi đó, các doanh nghiệp có nền tảng sản xuất – công nghiệp thực sự vẫn còn rất ít, có thể kể ra chỉ vài cái tên như FPT trong phần mềm, Vinamilk trong chế biến thực phẩm, Hòa Phát trong công nghiệp vật liệu, Masan trong một số chuỗi giá trị tiêu dùng.
Muốn tăng trưởng cao và bền vững, cần phát triển hệ sinh thái doanh nghiệp sản xuất – công nghiệp, và trong đó, sự tham gia của doanh nghiệp nhỏ và vừa là cực kỳ quan trọng. Chính vì vậy, việc nhân rộng mô hình doanh nghiệp nhỏ và vừa, cùng với các chính sách hỗ trợ thực chất cho khu vực này, phải được coi là một trụ cột của chiến lược tăng trưởng trong giai đoạn tới.
Có thể nói, đến thời điểm này, nhiều nút thắt lớn của đất nước đều đã được nhận diện khá rõ. Ví dụ, thể chế là điểm nghẽn của mọi điểm nghẽn; và nếu muốn bứt phá, thì đột phá thể chế là “đột phá của đột phá”. Ông có nghĩ là nhiều việc sẽ được tháo gỡ với tinh thần đó?
Chúng tôi kỳ vọng tinh thần đó sẽ được hiện thực hóa một cách thực chất. Như trong bài phát biểu bế mạc Đại hội XIV, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh rất rõ yêu cầu hành động quyết liệt.
Khi đã bàn, đã thống nhất, đã quyết định rồi thì phải làm. Không thể cứ nghe thêm ý kiến này, ý kiến khác rồi lại dừng lại, đắn đo, chần chừ. Nếu cứ như vậy thì sẽ không bao giờ có tăng trưởng, không bao giờ có đột phá.
Nguyên tắc phải rất rõ: dân chủ là bàn cho kỹ, nhưng khi đã quyết thì phải tập trung hành động. Chính hành động mới tạo ra kết quả.
Còn nếu nghị quyết, chiến lược đúng đắn, khoa học nhưng triển khai lại do dự, thiếu quyết đoán, thì cuối cùng vẫn không mang lại thay đổi thực chất cho nền kinh tế và cho đời sống của người dân.
Kì tới: Ông Võ Hồng Phúc: Đổi mới bắt đầu tư duy và thực tiễn bức bách
Tư Giang
Lan Anh