Hoàn thiện hành lang pháp lý - nền tảng an sinh xã hội bền vững
Các luận điệu chống phá thường ngụy trang dưới nhiều hình thức, nhưng tựu trung đều nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng trong bảo đảm an sinh xã hội; đồng thời cho rằng các chính sách xã hội “thiếu cơ sở khoa học”, “kém hiệu quả”, thậm chí xuyên tạc rằng thành quả phát triển của Việt Nam không đến được với người dân mà bị “thất thoát” do tham nhũng... Đây là những nhận định phiến diện, cố tình phủ nhận thực tế đời sống Nhân dân không ngừng được cải thiện, nhiều chỉ số phát triển xã hội từng bước được nâng cao và được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao.
Thực tiễn cho thấy, các chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước ta luôn bám sát yêu cầu phát triển. Ngay từ Đại hội VI đã đánh dấu bước đổi mới tư duy của Đảng về chính sách xã hội khi nhấn mạnh: “Chính sách xã hội bao trùm mọi mặt của cuộc sống con người”. Qua các kỳ Đại hội, quan điểm này ngày càng được hoàn thiện. Cụ thể, Văn kiện Đại hội VIII của Đảng khẳng định: “Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển”. Đến Nghị quyết Đại hội XIV, Đảng ta tiếp tục kế thừa và phát triển nguyên tắc này khi nêu rõ trong định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2026 - 2030: “Quản lý phát triển xã hội bền vững; bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, chăm lo đời sống Nhân dân”, “phát triển kinh tế gắn với bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội”...
Nhằm cụ thể hóa các Nghị quyết của Đảng, hệ thống pháp luật về an sinh xã hội không ngừng được hoàn thiện theo hướng đồng bộ, bao trùm và bền vững. Bên cạnh các quy định trong Hiến pháp, nhiều đạo luật quan trọng như: Bộ luật Lao động, Luật Việc làm, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Khám bệnh, chữa bệnh, Luật Nhà ở... cùng với các Nghị quyết của Quốc hội, Nghị định của Chính phủ, đã tạo lập hành lang pháp lý ngày càng đầy đủ, hướng tới bảo đảm quyền lợi cho mọi người dân, đặc biệt là nhóm yếu thế.
Trong đó, xóa đói, giảm nghèo là chủ trương lớn, nhất quán của Đảng và Nhà nước ta. Thông qua các Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới và phong trào “Vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau”... Việt Nam đã đạt được những kết quả rõ nét: đời sống người dân, nhất là ở vùng khó khăn được cải thiện; hạ tầng nông thôn phát triển đồng bộ, dịch vụ thiết yếu được mở rộng; tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh; cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động chuyển dịch tích cực, góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển và chênh lệch vùng miền.
Ngoài ra, hệ thống chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước ta còn đặc biệt quan tâm đến các đối tượng có công với cách mạng. 79 năm qua, kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành Sắc lệnh quy định chế độ hưu bổng, thương tật và tiền tuất tử sĩ (16/02/1947), các chính sách đối với người có công liên tục được sửa đổi, bổ sung, với mục tiêu để người có công và gia đình của họ “có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống của người dân nơi cư trú”. Theo đó, mức chuẩn trợ cấp được điều chỉnh tăng dần qua các thời kỳ; các chế độ ưu đãi ngày càng đa dạng, từ trợ cấp, phụ cấp hằng tháng, trợ cấp một lần đến hỗ trợ y tế, giáo dục, phục hồi chức năng, tạo việc làm, cải thiện nhà ở, miễn giảm tiền sử dụng đất...
Cộng đồng quốc tế đánh giá cao
Trong những thời điểm đất nước đối mặt với những khó khăn, thách thức chưa từng có tiền lệ, các giá trị nhân văn càng được thể hiện rõ nét. Điển hình là trong công tác phòng, chống đại dịch COVID-19, Việt Nam đã kiểm soát hiệu quả và chiến thắng dịch bệnh. Từ một nước tiếp cận sau về vaccine, có tỉ lệ tiêm chủng rất thấp, Việt Nam trở thành 1 trong 5 nước có tỉ lệ bao phủ vaccine cao nhất. Đặc biệt, sau khi tiếp cận được vaccine COVID-19, Việt Nam đã triển khai một chiến dịch bao phủ vaccine khẩn cấp, bao gồm nỗ lực đưa vaccine tiếp cận được mọi nơi, mọi người trên toàn quốc.
Cũng xuất phát từ quan điểm “sức khỏe là vốn quý nhất của con người, là nền tảng quan trọng nhất cho hạnh phúc của mọi người”, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 72-NQ/TW về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân. Nghị quyết khẳng định: Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân là mục tiêu, là động lực, là nhiệm vụ chính trị hàng đầu, giữ vị trí ưu tiên trong các chiến lược, chính sách phát triển... Song hành với đó, Nghị quyết 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo tiếp tục được triển khai quyết liệt. Đồng thời, Bộ Chính trị quyết định đầu tư xây dựng 248 trường nội trú liên cấp tại 248 xã biên giới đất liền. Ngày 19/3 vừa qua, phát biểu tại Lễ khởi công xây dựng trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học và THCS tại 121 xã biên giới, Tổng Bí thư Tô Lâm (nay là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm) nhấn mạnh yêu cầu tiếp tục hoàn thành các trường cho các cháu ở xã biên giới, ven biển, các xã hải đảo, các đặc khu...; đồng thời bảo đảm điều kiện học tập đầy đủ cho học sinh ở cả khu vực đô thị, từ mầm non, mẫu giáo cho đến hết phổ thông trung học.
Các kết quả về công tác an sinh xã hội mà Việt Nam nỗ lực đạt được trong thời gian qua đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao. Theo Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP), Việt Nam là một trong số ít các quốc gia đang phát triển duy trì được tốc độ giảm nghèo đa chiều ổn định suốt hơn hai thập kỷ. Việc chuyển từ “giảm nghèo theo thu nhập” sang “giảm nghèo đa chiều” đã giúp người dân tiếp cận tốt hơn các dịch vụ thiết yếu, nâng cao khả năng thoát nghèo bền vững, nhất là tại vùng sâu, vùng xa. Ngân hàng Thế giới (WB) cũng đánh giá Việt Nam là hình mẫu trong việc kết hợp tăng trưởng kinh tế với các chính sách an sinh xã hội. Theo WB, chiến lược đầu tư vào cơ sở hạ tầng, chuyển đổi sinh kế và phát triển nông nghiệp bền vững đã tạo ra nền tảng quan trọng để người dân chủ động vươn lên...
Củng cố niềm tin và đồng thuận xã hội
Bên cạnh các chính sách về y tế, giáo dục, các chương trình như xóa nhà tạm, nhà dột nát trên phạm vi toàn quốc, hay Đề án “Đầu tư xây dựng ít nhất 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội cho đối tượng thu nhập thấp, công nhân khu công nghiệp giai đoạn 2021 - 2030”... không chỉ bảo đảm an sinh, mà còn củng cố niềm tin và sự đồng thuận xã hội. Đây là những giải pháp mang tính chiến lược nhằm bảo đảm quyền có nơi ở ổn định, thu hẹp khoảng cách giàu, nghèo - một trong những điều kiện nền tảng của an sinh và phát triển con người, hiện thực hóa mục tiêu phát triển bao trùm.
Tinh thần “không để ai bị bỏ lại phía sau” tiếp tục được thể hiện rõ trong công tác ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai. Báo cáo tại Hội nghị toàn quốc về công tác phòng, chống thiên tai năm 2026 (tháng 4/2026) cho thấy, trong năm 2025, thiên tai đã gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản trên phạm vi cả nước. Tuy nhiên, với sự chỉ đạo kịp thời, quyết liệt, công tác khắc phục hậu quả được triển khai nhanh chóng, đồng bộ. Nổi bật là Thủ tướng Chính phủ đã phát động “Chiến dịch Quang Trung” thần tốc xây dựng lại, sửa chữa nhà ở cho các hộ dân bị thiệt hại do bão, lũ khu vực miền Trung. Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và các Bộ, ngành, địa phương đã huy động tối đa nguồn lực, lực lượng với tinh thần “3 ca, 4 kíp”, “vượt nắng, thắng mưa”, tổ chức triển khai Chiến dịch quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả. Kết quả “Chiến dịch Quang Trung” không những hoàn thành đúng tiến độ mà còn vượt tiến độ: đến ngày 30/12/2025, hoàn thành sửa chữa 34.759 nhà bị hư hỏng, đạt 100% kế hoạch; đến ngày 15/1/2026, đã cơ bản hoàn thành 1.597 nhà phải xây dựng mới.
Cùng với đó, hệ thống công đoàn thời gian qua đã triển khai nhiều chương trình thiết thực chăm lo đời sống, bảo đảm an sinh cho người lao động. Các chương trình hỗ trợ nhà ở như “Mái ấm công đoàn”, “Phúc lợi đoàn viên”, hay những chương trình chăm lo vào dịp lễ, Tết như “Tết sum vầy”, “Chuyến xe đoàn viên”... được duy trì thường xuyên, ngày càng đi vào chiều sâu...
Thực tiễn phát triển của Việt Nam đã và đang khẳng định: chính sách xã hội không chỉ là bảo đảm an sinh, mà còn là động lực của phát triển bền vững, lấy con người làm trung tâm, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Những luận điệu xuyên tạc, thù địch, dù ngụy trang dưới bất kỳ hình thức nào cũng không thể phủ nhận các thành tựu đã được kiểm chứng qua đời sống Nhân dân và sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế. Chính những thành quả đó là minh chứng thuyết phục nhất để củng cố niềm tin, tăng cường đồng thuận xã hội và bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên mới.
Trong nhiều năm qua, Chính phủ liên tục điều chỉnh chính sách tiền lương, với lương cơ sở tăng 19 lần trong giai đoạn 1995 - 2025, góp phần cải thiện thu nhập cho người hưởng lương từ ngân sách. Bên cạnh đó, hệ thống chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội ngày càng hoàn thiện theo hướng mở rộng diện bao phủ và tăng cường các biện pháp bảo đảm bền vững tài chính để bảo đảm sự bình đẳng trong tham gia bảo hiểm xã hội giữa các thành phần kinh tế, qua đó củng cố nền tảng an sinh xã hội lâu dài.
Vân Anh