Phân hạng giáo viên cần thực chất hay chỉ là danh xưng?

Phân hạng giáo viên cần thực chất hay chỉ là danh xưng?
3 giờ trướcBài gốc
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư số 30/2026/TT-BGDĐT quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông. Giáo viên được đánh giá theo vị trí việc làm gắn với hạng chức danh nghề nghiệp từ năm học 2026-2027.
Việc đánh giá giáo viên được thực hiện trên cơ sở nhiệm vụ được giao theo vị trí việc làm. Ảnh minh họa: Thang/Free-Fexel
Thông tư số 30/2026/TT-BGDĐT đã thay đổi cách thức đánh giá giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông khi chuyển từ hệ thống tiêu chuẩn, tiêu chí sang đánh giá theo vị trí việc làm gắn với hạng chức danh nghề nghiệp.
Theo khoản 2 Điều 19 Thông tư số 30/2026/TT-BGDĐT, người đứng đầu cơ sở giáo dục có trách nhiệm: "Bố trí, phân công, giao nhiệm vụ và đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của giáo viên theo vị trí việc làm tương ứng với chức danh giáo viên".
Như vậy, việc đánh giá giáo viên không còn dựa trên các tiêu chí định tính như trước đây mà được thực hiện trên cơ sở: nhiệm vụ được giao theo vị trí việc làm; hạng chức danh nghề nghiệp giáo viên (hạng I, II, III); mức độ hoàn thành nhiệm vụ thực tế.
Đồng thời, các nhiệm vụ theo từng hạng đã được quy định cụ thể tại Điều 3, Điều 4 và Điều 5 và tiêu chuẩn theo từng hạng tại các Điều 8 đến Điều 15 của Thông tư, làm căn cứ để đánh giá giáo viên.
Giáo viên nhận thấy, việc ban hành Thông tư số 30/2026/TT-BGDĐT không chỉ là một thay đổi về kỹ thuật đánh giá mà còn đặt ra nhiều vấn đề cần suy ngẫm, đặc biệt khi so sánh với Thông tư số 20/2018/TT-BGDĐT ban hành quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông.
Theo Thông tư số 20/2018/TT-BGDĐT, giáo viên được đánh giá dựa trên hệ thống tiêu chuẩn và tiêu chí khá rõ ràng. Các tiêu chí này xoay quanh phẩm chất nghề nghiệp, năng lực chuyên môn và khả năng phát triển nghề nghiệp.
Từ năm học 2025-2026 trở về trước, cách đánh giá này vẫn đang được áp dụng, với quy trình quen thuộc: giáo viên tự đánh giá, tổ chuyên môn nhận xét, lãnh đạo nhà trường xem xét và xếp loại.
Ưu điểm của cách làm này là tạo ra một khung tương đối thống nhất, giúp giáo viên dễ hình dung mình đang ở mức nào. Tuy nhiên, hạn chế lớn là nhiều tiêu chí mang tính mô tả, khó đo lường cụ thể. Không hiếm trường hợp giáo viên đạt mức "tốt" ở nhiều tiêu chí nhưng kết quả học tập của học sinh lại chưa tương xứng.
Còn Thông tư số 30/2026/TT-BGDĐT chuyển sang đánh giá theo vị trí việc làm và hạng chức danh nghề nghiệp, dựa trên nhiệm vụ được giao và mức độ hoàn thành thực tế. Về hành lang pháp lí, đây là một bước tiến vì hướng đến việc đo lường kết quả công việc thay vì chỉ dừng ở mô tả năng lực.
Nhưng, điểm mấu chốt nằm ở chỗ phải lượng hóa được công việc thì mới đánh giá chính xác. Chẳng hạn, thay vì chỉ nhận xét giáo viên có "đổi mới phương pháp dạy học", việc đánh giá cần gắn với những công việc cụ thể như: số chuyên đề dạy học được triển khai và mang lại hiệu quả như thế nào, hay mức độ cải thiện kết quả học tập của học sinh qua từng giai đoạn (giữa kì, cuối kì) ra sao.
Một nội dung gây nhiều tranh luận là việc gắn đánh giá với hạng chức danh nghề nghiệp (hạng I, II, III) giáo viên. Về mặt lý thuyết, mỗi hạng đi kèm với yêu cầu khác nhau, từ đó làm căn cứ giao nhiệm vụ và đánh giá.
Thế nhưng, trong thực tế trường phổ thông, phần lớn giáo viên đều thực hiện cùng một nhiệm vụ cốt lõi: giảng dạy và giáo dục học sinh. Sự khác biệt giữa các hạng, thường không thể hiện rõ trong khối lượng công việc hằng ngày.
Chính vì vậy, nếu muốn đánh giá theo hạng một cách thuyết phục, cần phải lượng hóa sự khác biệt về nhiệm vụ của giáo viên hạng II so với hạng III (còn hạng I thì đã rõ ràng) và phải có tổng kết, đánh giá.
Ví dụ:
Điều 5 Thông tư số 30/2026/TT-BGDĐT quy định nhiệm vụ của giáo viên trung học phổ thông hạng II như sau (trích):
a) Làm báo cáo viên hoặc dạy minh họa ở các lớp bồi dưỡng giáo viên từ cấp trường trở lên hoặc dạy thử nghiệm các mô hình, phương pháp, công nghệ mới; chủ trì các nội dung bồi dưỡng và sinh hoạt chuyên đề ở tổ chuyên môn hoặc tham gia xây dựng học liệu điện tử;
c) Tham gia đánh giá ngoài hoặc công tác kiểm tra chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên từ cấp trường trở lên;
Hai nhiệm vụ này, giáo viên trung học phổ thông hạng II phải có năng lực tương đương tổ trưởng chuyên môn (giỏi chuyên môn, nghiệp vụ) thì mới có thể đảm nhiệm được công việc.
Điều đáng bàn, thực tế hiện nay ở nhiều trường, những nhiệm vụ này chưa được phân định một cách rõ ràng, dẫn đến tình trạng "hạng khác nhau nhưng việc làm giống nhau". Khi công việc không khác biệt đáng kể, việc phân hạng dễ trở thành hình thức, tạo sự bất công giữa các giáo viên.
Nhìn chung, nếu không làm rõ sự khác biệt về nhiệm vụ và trách nhiệm giữa các hạng, việc phân hạng giáo viên rất dễ trở thành danh xưng hơn là thước đo năng lực. Điều quan trọng không nằm ở việc chia hạng, mà ở chỗ mỗi hạng phải thực sự gắn với công việc, trách nhiệm và kết quả cụ thể.
Minh Anh
Nguồn Công dân & Khuyến học : https://congdankhuyenhoc.vn/phan-hang-giao-vien-can-thuc-chat-hay-chi-la-danh-xung-179260427084904498.htm