Tại Diễn đàn và Triển lãm Quốc tế đô thị thông minh châu Á tại Việt Nam - Smart City Asia 2026 (SCA 2026), ông Lê Hoàng Trung, Phó Cục trưởng Cục Phát triển đô thị (Bộ Xây dựng), đã có những chia sẻ toàn diện về tình hình triển khai và định hướng phát triển đô thị thông minh tại Việt Nam.
Một thập kỷ định hình chính sách
Theo ông Lê Hoàng Trung, từ năm 2016, phát triển đô thị thông minh được định hình qua chuỗi văn bản chính sách liên tục ở cấp cao nhất. Năm 2016, chủ trương "ưu tiên phát triển một số đô thị thông minh" lần đầu được ghi nhận trong Nghị quyết số 05/NQ-TW. Năm 2018, Thủ tướng phê duyệt Đề án phát triển đô thị thông minh bền vững Việt Nam giai đoạn 2018-2025, định hướng đến năm 2030.
Tham luận của ông Lê Hoàng Trung về phát triển đô thị thông minh tại Việt Nam thu hút sự quan tâm lớn của các đại biểu.
Các Nghị quyết số 52/NQ-TW (2019), số 06/NQ-TW (2022) và số 57/NQ-TW (2024) của Bộ Chính trị tiếp tục nâng cao mục tiêu, đến năm 2030 phải "hoàn thành xây dựng đô thị thông minh đối với các thành phố trực thuộc Trung ương và một số tỉnh, thành phố có đủ điều kiện". Năm 2025, khung pháp lý được hoàn thiện với Nghị định số 269/2025/NĐ-CP của Chính phủ và Thông tư số 03/2026/TT-BXD của Bộ Xây dựng hướng dẫn thi hành.
Tại Trung ương, phát triển đô thị thông minh được quan tâm đưa vào các chương trình, Nghị quyết lớn của Bộ Chính trị, Quốc hội: Nghị quyết số 06/NQ-TW, Nghị quyết số 57/NQ-TW và Nghị quyết số 193/2025/QH15 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Tại các bộ ngành, phát triển đô thị thông minh được các bộ ngành tham mưu, lồng ghép trong các chính sách pháp luật. Tại các địa phương, việc triển khai đô thị thông minh được đưa vào nhiều Nghị quyết, chương trình, kế hoạch chỉ đạo điều hành.
Ông Lê Hoàng Trung cho biết, hiện còn năm nhóm khó khăn chủ yếu được ghi nhận: dữ liệu còn phân tán, thiếu đồng bộ, chưa có cơ sở dữ liệu dùng chung; nhân lực thiếu, chủ yếu kiêm nhiệm, chưa có chính sách phát triển thống nhất; thể chế còn thiếu hành lang pháp lý và công cụ quản lý cụ thể; sự tham gia của khu vực tư nhân còn hạn chế; việc triển khai còn riêng lẻ, manh mún, phần lớn mới ở mức thí điểm.
Ngoài ra, khó khăn từ mô hình chính quyền hai cấp do việc khu vực đô thị chỉ còn cấp phường đặt ra yêu cầu phải xác định lại chủ thể phát triển đô thị thông minh và phân công trách nhiệm quản lý, trừ các thành phố trực thuộc Trung ương. Đồng thời, các pháp luật liên quan đến đô thị cần điều chỉnh, kéo theo pháp luật về đô thị thông minh cũng phải sửa đổi cho phù hợp. "Nghị định số 269/2025/NĐ-CP là khung pháp lý tổng thể, thống nhất về định hướng, nguyên tắc, nội dung, lộ trình, trách nhiệm và cơ chế triển khai đô thị thông minh tại Việt Nam, gồm 10 chương và 47 điều. Nghị định quy định đầy đủ từ quy hoạch - đầu tư - hạ tầng số - dữ liệu - vận hành - quản lý đô thị thông minh" - ông Lê Hoàng Trung đánh giá.
Nghị định xác định: "Đô thị thông minh là đô thị lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực cốt lõi để quy hoạch, xây dựng, quản lý và vận hành đô thị, nhằm nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ, bảo đảm môi trường sống an toàn, tiện nghi cho người dân, nâng cao năng lực cạnh tranh, hiệu quả quản lý của đô thị, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; hướng tới mục tiêu phát triển đô thị bền vững".
Nghị định xác lập 5 định hướng chung: phát triển đô thị thông minh phải gắn chặt với quy hoạch đô thị và phát triển bền vững; dữ liệu đô thị là nền tảng cốt lõi của đô thị thông minh; phát triển đô thị thông minh phải đi từ nhu cầu thực tiễn của người dân và doanh nghiệp; bảo đảm an toàn, an ninh thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân; phát triển đô thị thông minh là quá trình lâu dài, có lộ trình, có đánh giá, có giám sát kết quả thực hiện.
Các tỉnh, thành phố lớn triển khai đô thị thông minh thế nào?
Ông Lê Hoàng Trung cho biết, tại các địa phương, về thành lập Hội đồng điều phối phát triển đô thị thông minh, hai thành phố (Cần Thơ, Hà Nội) và 4 tỉnh (Khánh Hòa, Bắc Ninh, Ninh Bình, Lâm Đồng) đã ban hành quyết định thành lập Hội đồng; 1 tỉnh (Thanh Hóa) đang tham mưu xem xét thành lập Hội đồng điều phối.
Về đề án đô thị thông minh, đã có 4 thành phố gồm Huế, Đà Nẵng, Cần Thơ, Hà Nội ban hành Đề án; 2 địa phương (Hải Phòng, TP. Hồ Chí Minh) đã xin ý kiến và có văn bản góp ý của Bộ Xây dựng.
Về mục tiêu phấn đấu Top 50 bảng xếp hạng đô thị thông minh, 3 thành phố có văn bản đăng ký (Hà Nội, Huế, Đà Nẵng) và 1 tỉnh (Bắc Ninh) có kế hoạch nghiên cứu, phấn đấu lọt Top 50 bảng xếp hạng đô thị thông minh.
Tình hình triển khai đô thị thông minh tại Việt Nam có nhiều kết quả khả quan.
Về kết quả triển khai đô thị thông minh tại 6 thành phố trực thuộc trung ương ông Lê Hoàng Trung thông tin: Đối với TP. Hà Nội, cho thấy hiệu quả rõ nhất ở quản trị đô thị số và số hóa thủ tục hành chính. Ứng dụng iHanoi đã có khoảng 1,446 triệu tài khoản, khoảng 16 triệu lượt truy cập/sử dụng, và hơn 83% kiến nghị hiện trường được xử lý; 100% hồ sơ thủ tục hành chính thuộc phạm vi UBND Thành phố thực hiện bằng hình thức trực tuyến, trong đó có 767 thủ tục toàn trình.
TP. Hồ Chí Minh, hiệu quả nổi bật nhất ở quy mô phục vụ người dân và đóng góp của kinh tế số: 1.636 thủ tục hành chính được cung cấp dưới hình thức dịch vụ công trực tuyến toàn trình, chiếm 80,1% tổng số thủ tục; kinh tế số đã đóng góp đáng kể vào GRDP của Thành phố.
TP. Huế, hiệu quả rõ nhất ở tương tác công dân số, phản ánh hiện trường và điều hành theo dữ liệu: Hue-S đã phát triển thành hệ sinh thái số với hơn 1,3 triệu tài khoản, trong đó trên 900.000 tài khoản được xác thực qua VNeID, tích hợp hơn 50 dịch vụ tiện ích; hệ thống kết nối gần 700 camera giám sát cùng 29 giải pháp AI phục vụ giao thông, trật tự đô thị và an ninh; nền tảng báo cáo số và GISHue đã có hơn 100 báo cáo, 400 dashboard, 3.000 biểu đồ; 97% thủ tục hành chính được triển khai dưới dạng dịch vụ công trực tuyến toàn trình.
TP. Đà Nẵng, hiệu quả nổi bật nhất ở mức độ trưởng thành mô hình và tính tích hợp dữ liệu: IOC Đà Nẵng hiện cung cấp hơn 160 dịch vụ giám sát và 50 dịch vụ phân tích, cảnh báo; nền tảng Danang Smart City đã có hơn 90.000 lượt tải, kết nối người dân - du khách - chính quyền trong cùng một hệ sinh thái số.
TP. Hải Phòng, hiệu quả nổi bật ở cải cách hành chính số và năng lực điều hành điện tử: triển khai cơ chế không thu hồ sơ giấy đối với 25 dịch vụ công trực tuyến thiết yếu đã cung cấp toàn trình; ban hành bộ chỉ số phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành trên môi trường điện tử với 86 chỉ số, chia thành 4 nhóm.
TP. Cần Thơ, hiệu quả hiện thấy rõ ở mức độ tiến bộ nhanh và hình thành nền tảng triển khai: thành phố đạt và vượt 19/23 chỉ tiêu kế hoạch chuyển đổi số, hoàn thành 20/95 nhiệm vụ, 69 nhiệm vụ đang thực hiện.
Khuyến nghị nào cho phát triển đô thị thông minh tại Việt Nam?
Ông Lê Hoàng Trung, Phó Cục trưởng Cục Phát triển đô thị (Bộ Xây dựng).
Cũng tại sự kiện, về quá trình phát triển đô thị thông minh, ông Lê Hoàng Trung đưa ra 5 khuyến nghị:
Thứ nhất, phát triển theo cấu trúc vùng đô thị đa trung tâm, tăng cường liên kết giữa đô thị trung tâm với các đô thị vệ tinh.
Thứ hai, dựa trên đổi mới sáng tạo và kinh tế tri thức, có sự kết nối chặt chẽ với các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
Thứ ba, gắn với chuyển đổi số và quản trị đô thị thông minh, ứng dụng dữ liệu đô thị, trí tuệ nhân tạo (AI) và nền tảng số trong quản lý và cung cấp dịch vụ đô thị.
Thứ tư, hướng tới phát triển bền vững và khả năng chống chịu, tăng cường hạ tầng xanh, thích ứng với biến đổi khí hậu và sử dụng hiệu quả tài nguyên.
Thứ năm, mức độ kết nối toàn cầu cao, kết nối sâu rộng về vốn, tri thức, công nghệ và văn hóa, trở thành các trung tâm quan trọng trong mạng.
Về phương thức phát triển đô thị thông minh, ông Lê Hoàng Trung nhấn mạnh 3 nguyên tắc quan trọng:
Thứ nhất, xây dựng nền tảng trước, ứng dụng sau; dữ liệu trước, trí tuệ sau. Coi trọng xây dựng nhưng càng coi trọng vận hành hơn; coi trọng công nghệ nhưng càng coi trọng giá trị.
Thứ hai, ưu tiên dân sinh trước, nâng cao hiệu quả sau; giải quyết nhu cầu cấp bách trước, triển khai toàn diện sau. Qua đó, chú trọng xây dựng năng lực cơ bản; sau khi hình thành vững chắc các phương thức quản lý cơ bản và biện pháp xử lý như bảo đảm truyền thông, thu thập - tổng hợp và xử lý dữ liệu, cơ chế phối hợp và quản lý hệ thống, mới tiếp tục triển khai các ứng dụng và xây dựng hệ thống thông minh.
Thứ ba, tập trung vào các vấn đề dân sinh, giải quyết những nhu cầu cấp bách. Sau khi các vấn đề dân sinh được giải quyết hiệu quả, tiếp tục mở rộng và nâng cao chất lượng theo mức độ cấp thiết và độ khó xây dựng. Vận hành hiệu quả là nền tảng của cơ chế lâu dài và định hướng giá trị là mục tiêu của quá trình xây dựng.
Phát triển đô thị thông minh tại Việt Nam đang bước vào giai đoạn then chốt. Sau một thập kỷ định hình chính sách, khung pháp lý đã hoàn thiện, bộ tiêu chí đánh giá đã có, và những kết quả thực tiễn tại các thành phố lớn cho thấy đô thị thông minh không còn là khái niệm trên giấy. Tuy nhiên, "bài toán" dữ liệu phân tán, nhân lực mỏng và triển khai còn manh mún vẫn là những điểm nghẽn cần tháo gỡ quyết liệt. Thành công hay không sẽ phụ thuộc vào một nguyên tắc giản dị nhưng không dễ thực hiện: đặt nền tảng trước, đặt người dân vào trung tâm và đo kết quả bằng giá trị thực, chứ không phải bằng số lượng ứng dụng hay hệ thống đã triển khai.
Tiến Phòng