GS.TS. Nguyễn Thiện Nhân, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ, trình bày tham luận tại Hội thảo khoa học quốc gia với chủ đề “Đổi mới mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số” diễn ra vào sáng ngày 26/5 tại Hải Phòng. (Ảnh: Việt Dũng)
Trình bày tham luận tại Hội thảo khoa học quốc gia với chủ đề “Đổi mới mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số” , GS.TS. Nguyễn Thiện Nhân, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ, nhấn mạnh để định hình mô hình phát triển quốc gia trong thế kỷ 21, Việt Nam cần chủ động lựa chọn con đường phù hợp với điều kiện thực tiễn của mình, đồng thời quan sát, học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia khác.
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ ĐẢM BẢO NGUỒN NHÂN LỰC CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ
Dẫn ví dụ về bức tranh tăng trưởng của Nhật Bản, GS.TS. Nguyễn Thiện Nhân cho biết quốc gia này đã trải qua giai đoạn tăng trưởng kinh tế vượt bậc kéo dài suốt 30 năm, từ 1965-1995, với tốc độ tăng GDP danh nghĩa bình quân đạt 14,68%/năm.
Các đại biểu tham dự Hội thảo khoa học quốc gia "Đổi mới mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số” ngày 26/5/2026.
Đặc biệt, GDP bình quân đầu người của Nhật Bản năm 1965 chỉ ở mức 994 USD, tương đương khoảng 28% mức GDP/người của Hoa Kỳ khi đó (3.600 USD). Đến năm 1995, GDP/người của Nhật Bản đã tăng lên 44.200 USD, tương đương 154% mức của Hoa Kỳ (28.691 USD). Theo GS.TS. Nguyễn Thiện Nhân, đây là một kỳ tích kinh tế đặc biệt mà chưa quốc gia nào khác đạt được.
Tuy nhiên, sau năm 1995, tăng trưởng kinh tế của Nhật Bản bắt đầu chững lại. Lý giải nguyên nhân này, GS.TS. Nguyễn Thiện Nhân cho biết lực lượng lao động suy giảm cùng với năng suất lao động đi xuống là những yếu tố quan trọng tác động tới đà tăng trưởng của nền kinh tế Nhật Bản.
Trong đó, sự sụt giảm lao động bắt nguồn từ tình trạng mức sinh giảm kéo dài. Cụ thể, năm 1990, sau 17 năm liên tiếp mức sinh thấp hơn mức thay thế (1974-1990), khi tỷ suất sinh của Nhật Bản chỉ còn 1,54 con/phụ nữ, Chính phủ Nhật Bản đã triển khai nhiều chính sách hỗ trợ gia đình nhằm khuyến khích sinh con. Tuy nhiên, các biện pháp này chưa mang lại hiệu quả như kỳ vọng khi mức sinh tiếp tục giảm xuống 1,36 vào năm 2000; 1,26 vào năm 2015 và xuống còn 1,15 vào năm 2025.
Các dự báo cho thấy đến năm 2100, lực lượng lao động của Nhật Bản có thể giảm 62%, dân số giảm 51% so với thời kỳ đỉnh cao; đến năm 2200 dân số có thể giảm 92%, năm 2300 giảm 98% so với năm 2010.
Tương tự, Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc cũng đang đối mặt với tình trạng suy giảm tỷ lệ sinh sau thập niên 1990, đặt ra những thách thức lớn đối với tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững trong dài hạn.
Từ những kinh nghiệm phát triển của các quốc gia trên thế giới, GS.TS. Nguyễn Thiện Nhân cho rằng Việt Nam cần rút ra nhiều bài học quan trọng trong quá trình xây dựng mô hình phát triển cho giai đoạn mới.
Thứ nhất, Việt Nam cần tránh mô hình phát triển theo hướng “bùng nổ kinh tế” trong ngắn hạn nhưng sau đó rơi vào suy giảm và trì trệ kéo dài. Đặc biệt, tăng trưởng kinh tế cần gắn với tính bền vững, bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế, duy trì lực lượng lao động và ổn định dân số trong dài hạn.
Thứ hai, mô hình phụ thuộc vào nhập cư quy mô lớn để bù đắp thiếu hụt lao động trong nước sẽ trở nên không còn khả thi vào nửa cuối thế kỷ 21.
GS.TS. Nguyễn Thiện Nhân cho biết phần lớn các quốc gia có thu nhập cao hiện nay đều đã trải qua trung bình khoảng 43 năm có mức sinh thấp hơn mức thay thế, với mức sinh bình quân năm 2025 chỉ khoảng 1,45 con/phụ nữ. Các quốc gia này đã sử dụng lao động nhập cư để bù đắp thiếu hụt nhân lực, thậm chí triển khai chính sách nhập cư quy mô lớn nhằm gia tăng lực lượng lao động, như tại Singapore, Hoa Kỳ, Canada hay Australia.
Tuy nhiên, theo dự báo, sau năm 2053, lực lượng lao động toàn cầu sẽ bắt đầu suy giảm và đến cuối thế kỷ 21, thế giới có thể đối mặt với tình trạng thiếu hụt lao động trên diện rộng. Điều đó đồng nghĩa với việc các quốc gia dựa vào lao động nhập cư sẽ ngày càng khó duy trì động lực tăng trưởng.
Thứ ba, Việt Nam cần gia tăng tỷ lệ lao động trong lĩnh vực nghiên cứu và phát triển (R&D). Theo GS.TS. Nguyễn Thiện Nhân, thực tiễn cho thấy quốc gia nào có tỷ lệ lao động tham gia nghiên cứu và phát triển càng cao thì GDP bình quân đầu người cũng có xu hướng tăng tương ứng.
Hiện nay, tỷ lệ lao động nghiên cứu và phát triển của Việt Nam mới đạt khoảng 1,5 người trên 1.000 lao động, trong khi GDP bình quân đầu người ở mức khoảng 4.500 USD - vẫn còn khá thấp so với nhiều quốc gia trong khu vực. Trong khi đó, tại Thái Lan, hai chỉ số này lần lượt là 3,4 và 7.500 USD; Trung Quốc là 4,3 và 13.500 USD; còn Hàn Quốc đạt 17,9 và 35.000 USD. Qua đó, có thể thấy rằng những con số này cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa quy mô nguồn nhân lực nghiên cứu phát triển và mức thu nhập bình quân đầu người của mỗi quốc gia.
Từ đó, GS.TS. Nguyễn Thiện Nhân đề xuất Việt Nam cần nâng số lao động nghiên cứu phát triển từ khoảng 75.665 người hiện nay lên khoảng 294.000 người. Đồng thời, mật độ lao động nghiên cứu và phát triển cần tăng từ 1,5 lên 5,83 người trên mỗi 1.000 lao động nếu muốn đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và bền vững trong thời gian tới.
Cuối cùng, tăng cường đầu tư cho nghiên cứu và phát triển là yếu tố then chốt để thúc đẩy tăng trưởng dài hạn. Hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới đang dành tỷ lệ chi rất lớn cho hoạt động nghiên cứu phát triển. Điển hình, Hàn Quốc đầu tư khoảng 4,95% GDP cho nghiên cứu và phát triển; Hoa Kỳ là 3,45%; Nhật Bản là 3,44%; trong khi tại Việt Nam, tỷ lệ này mới chỉ khoảng 0,5% GDP.
“Vì vậy, Việt Nam cần gia tăng mạnh mẽ mức đầu tư cho nghiên cứu và phát triển để tạo nền tảng cho tăng trưởng nhanh và bền vững trong tương lai”, GS.TS. Nguyễn Thiện Nhân nhấn mạnh.
NĂM KIẾN NGHỊ GIÚP VIỆT NAM PHÁT TRIỂN NHANH VÀ BỀN VỮNG
Theo GS.TS. Nguyễn Thiện Nhân, nguy cơ lớn nhất đối với sự phát triển của Việt Nam trong thế kỷ 21 là sự phát triển không bền vững về con người, từ đó kéo theo những rủi ro về kinh tế và xã hội. Đặc biệt, điểm nghẽn lớn nhất để Việt Nam đạt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân 10%/năm trong 20 năm tới chính là tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, khiến nền kinh tế có nguy cơ rơi vào “bẫy thu nhập trung bình”.
Từ đó, GS.TS. Nguyễn Thiện Nhân đã đưa ra 5 kiến nghị nhằm hoàn thiện mô hình phát triển nhanh và bền vững cho Việt Nam trong giai đoạn tới.
Thứ nhất, quyết liệt thực hiện nguyên tắc “phát triển bền vững về con người là nền tảng quan trọng nhất để phát triển nhanh và bền vững”, đồng thời bảo đảm duy trì mức sinh thay thế từ năm 2030, chậm nhất là năm 2035.
Thứ hai, xây dựng Đề án tăng tuổi nghỉ hưu trong giai đoạn 2026-2035.
Trong bối cảnh nguy cơ suy giảm lực lượng lao động giai đoạn 2035-2060 ngày càng rõ nét, có thể cản trở mục tiêu duy trì tăng trưởng GDP từ 10%/năm trở lên trong thời kỳ 2026-2045, việc nâng tuổi nghỉ hưu lên 65 tuổi sau năm 2035 sẽ giúp gia tăng khoảng 5 triệu người trong độ tuổi lao động trong giai đoạn 2036-2100. Theo ông, đây sẽ là cơ sở quan trọng để duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong dài hạn.
Thứ ba, rà soát lại các chỉ tiêu tăng năng suất lao động cho giai đoạn 2026-2045 nhằm bảo đảm phù hợp với mục tiêu tăng trưởng GDP 10% mỗi năm, đồng thời bám sát các dự báo về xu hướng lao động trong các giai đoạn 2026-2035 và 2035-2045.
Thứ tư, xây dựng và triển khai Đề án phát triển nguồn nhân lực nghiên cứu và phát triển (R&D) ngay trong năm 2026, với mục tiêu nâng số lao động trong lĩnh vực này từ khoảng 75.665 người năm 2025 lên khoảng 294.000 người vào năm 2045.
Thứ năm, xây dựng Đề án tăng tổng chi xã hội cho hoạt động nghiên cứu và phát triển, phù hợp với lộ trình gia tăng mật độ lao động nghiên cứu và phát triển trong năm 2026 và triển khai từ năm 2027. Trong đó, cần đặc biệt chú trọng nâng tỷ trọng đầu tư cho nghiên cứu và phát triển từ khu vực doanh nghiệp nhằm tạo động lực thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Phương Nhi