Hội nghị Y học bào thai thường niên lần thứ IV. BVCC
Ngày 29/5, tại Hà Nội, Bệnh viện Phụ sản Trung ương tổ chức khai mạc Hội nghị Y học bào thai thường niên lần thứ IV. Sự kiện có sự tham dự của Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan cùng đại diện các cơ quan chuyên môn, nhà quản lý y tế, chuyên gia, nhà khoa học, bác sĩ lâm sàng trong lĩnh vực sản phụ khoa, nhi khoa, di truyền, chẩn đoán hình ảnh và can thiệp bào thai.
Phát biểu tại hội nghị, Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan nhấn mạnh, y học bào thai là lĩnh vực có ý nghĩa đặc biệt nhân văn, bởi mục tiêu cao nhất là giúp trẻ em được sinh ra khỏe mạnh, giảm thiểu bệnh lý và dị tật ngay từ trong bụng mẹ.
Theo Bộ trưởng, ngành y tế đang triển khai các mục tiêu của Nghị quyết 72 của Bộ Chính trị, trong đó có các giải pháp đột phá nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân và chất lượng dân số Việt Nam. Để thực hiện mục tiêu này, Bộ Y tế thời gian qua đã xây dựng, hoàn thiện nhiều văn bản pháp luật quan trọng, trong đó có Luật Dân số và Luật Phòng bệnh.
Bộ trưởng Đào Hồng Lan cho rằng, trong bối cảnh khoa học công nghệ y tế thế giới phát triển nhanh, ngành y tế Việt Nam phải đáp ứng đồng thời yêu cầu hội nhập quốc tế và kỳ vọng ngày càng cao của người dân về chất lượng chăm sóc sức khỏe. Trong chiến lược phát triển ngành y tế giai đoạn mới, Bộ Y tế xác định y học bào thai là một trong những chuyên ngành mũi nhọn cần được ưu tiên phát triển, cùng với y học chính xác, y học di truyền và y học công nghệ cao.
Bộ trưởng Đào Hồng Lan cho biết, Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu quan trọng trong chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em. Tỷ lệ tử vong mẹ đã giảm khoảng 4 lần so với trước đây, từ mức 165 ca trên 100.000 trẻ sinh sống xuống còn hơn 40 ca. Tỷ lệ tử vong sơ sinh cũng giảm mạnh, hiện còn khoảng 10 ca trên 1.000 trẻ sinh sống.
Theo Bộ trưởng Bộ Y tế, những kết quả này có sự đóng góp lớn của ngành sản phụ khoa nói chung và lĩnh vực y học bào thai nói riêng. Trong thời gian tới, Bộ Y tế sẽ tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý, xây dựng chính sách, ban hành quy trình chuyên môn và định mức kinh tế kỹ thuật nhằm tạo điều kiện cho việc phổ cập dịch vụ sàng lọc trước sinh, phát hiện sớm bất thường thai nhi và phát triển các kỹ thuật chuyên sâu.
Chia sẻ tại hội nghị, Bộ trưởng Bộ Y tế nhắc lại dấu mốc cách đây một năm, khi các bác sĩ Bệnh viện Từ Dũ và Bệnh viện Nhi đồng 1 TPHCM thực hiện thành công ca can thiệp tim bào thai phức tạp và cho biết, những ca can thiệp như vậy không chỉ đòi hỏi kỹ thuật cao mà còn thể hiện trí tuệ và y đức của đội ngũ thầy thuốc.
Tại hội nghị, GS.TS Nguyễn Duy Ánh, Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Trung ương cho biết, y học bào thai hiện đại không chỉ dừng ở theo dõi thai kỳ. Thai nhi cần được nhìn nhận như một bệnh nhân có thể được chẩn đoán, can thiệp và điều trị khi phát hiện bệnh lý phù hợp.
Theo GS.TS Nguyễn Duy Ánh, đặc thù của y học bào thai là yếu tố thời gian đóng vai trò quyết định. Việc chậm trễ trong phát hiện và chuyển tuyến có thể khiến thai nhi mất cơ hội được cứu chữa. Vì vậy, các cơ sở sản khoa cần nâng cao năng lực sàng lọc, chẩn đoán ban đầu để phát hiện sớm bất thường thai nhi và chuyển người bệnh đến các trung tâm chuyên sâu khi cần thiết.
Ông cho rằng không phải cơ sở nào cũng cần thực hiện can thiệp bào thai chuyên sâu, bởi đây là lĩnh vực đòi hỏi trang thiết bị hiện đại, hạ tầng đồng bộ và đội ngũ chuyên gia trình độ cao. Điều quan trọng là tuyến cơ sở phải làm tốt nhiệm vụ sàng lọc, phát hiện sớm và chuyển tuyến kịp thời, tránh bỏ lỡ “giờ vàng” can thiệp.
Nhiều bệnh lý, dị tật của thai nhi nếu không được phát hiện và xử trí sớm có thể dẫn đến thai chết lưu, hoặc trẻ sinh ra với tổn thương nặng nề ở não, tim, gan, phổi, thận, thậm chí tử vong ngay sau sinh. Trong một số trường hợp, can thiệp ngay từ trong bào thai là cơ hội duy nhất để cứu em bé.
Tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương, số ca can thiệp bào thai đã lên tới hàng trăm trường hợp với nhiều kỹ thuật như truyền ối, điều trị hội chứng truyền máu song thai, can thiệp các dị tật phức tạp. Theo GS.TS Nguyễn Duy Ánh, để phát triển lĩnh vực này, cần đầu tư đồng bộ về nhân lực, trang thiết bị, cơ chế chính sách, đồng thời xây dựng danh mục kỹ thuật và các hướng dẫn chuyên môn phù hợp.
Trong khuôn khổ hội nghị, 17 báo cáo chuyên sâu được trình bày bởi các chuyên gia đến từ Pháp, Bỉ, Hồng Kông, Trung Quốc và Việt Nam, tập trung vào các xu hướng mới của y học bào thai như song thai và biến chứng song thai, dị tật bẩm sinh, thoát vị hoành, rối loạn nhịp tim thai, kỹ thuật laser trong can thiệp bào thai và các phương pháp xâm lấn tối thiểu.
Trước đó, ngày 28/5, hội nghị tổ chức workshop chuyên sâu tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương với chủ đề “Can thiệp bào thai: Vượt trên giới hạn”, cập nhật kỹ thuật xử trí nhiều ca bệnh hiếm và phức tạp. Đây được xem là diễn đàn chuyên môn quan trọng, góp phần thúc đẩy y học bào thai Việt Nam phát triển theo hướng hiện đại, chuẩn hóa và hội nhập quốc tế.
Đức Trân