Phố Hiến một thời chỉ xếp sau Thăng Long - Kẻ Chợ về đô thị kinh tế, thương mại, nhất là thời kỳ Phố Hiến hưng thịnh vào thế kỷ 17 và 18. Chính vì thế dân gian có câu ca "Thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì Phố Hiến." Cùng thời, ở Đàng Ngoài có Phố Hiến thì Đàng trong có Hội An, hai đô thị cổ có giao thương quốc tế lớn nhất.
Song câu hỏi thường được nhiều du khách và ngay cả không ít người bản xứ đặt ra là: Cảng thị sầm uất nhất nhì cả nước trong nhiều thế kỷ, nay còn lại gì? Phố Hiến ra đời như thế nào? Thời hưng thịnh phát triển ra sao? Vì sao Phố Hiến lụi tàn? Vấn đề khoa học lớn này đã được nhiều học giả, nhà khoa học hàng đầu trong nước và quốc tế nghiên cứu trong suốt nhiều thập kỷ qua.
Thời gian trôi qua, Phố Hiến vang bóng một thời nhưng dòng nước Hồng Hà không bao giờ dừng lại. Phố Hiến từng là thương cảng quốc tế lớn nhất, nhì Việt Nam và khu vực. Nhiều thương thuyền lớn từ phương Tây, Nhật Bản, Trung Quốc đã thả neo ở đây. Nhiều công ty hàng hải nổi danh của Hà Lan, Anh cũng từng mở thương điếm tại Phố Hiến.
Cùng ra đời trong cùng thời điểm nhưng Hội An vẫn giữ được khu phố cổ. Phố Hiến hình hài như thế nào chỉ còn lưu lại lẻ tẻ ở các tài liệu trong và ngoài nước mà không có các bức vẽ, bức ảnh hoàn chỉnh. Ngay cả các số liệu cũng không nhiều, chẳng hạn lúc cao điểm có bao nhiêu tàu thuyền, cũng chưa sưu tầm được nên các nhà nghiên cứu chuyên sâu rất khó có một kết luận thật chính xác. Nhưng cùng thời điểm, cùng điều kiện lịch sử, chắc chắn Phố Hiến cũng na ná như Hội An!
Đến nay, chưa có đủ dữ kiện để khẳng định chính xác niên đại ra đời của Phố Hiến. Song bằng những tư liệu qua nghiên cứu sử sách, bia ký, khảo cổ và khảo sát thực địa, các nhà khoa học đều cho rằng ngay từ thế kỷ thứ 10, vùng Đằng Châu, phường Sơn Nam ngày nay vốn là một lãnh địa của sứ quân Phạm Bạch Hổ.
Thế kỷ 13, dưới thời nhà Trần, khi nhà Nguyên diệt Tống, một số kiều dân Trung Quốc tị nạn đã kéo sang Việt Nam, lập nên làng Hoa Dương.
Cùng lúc đó, một số người Việt từ nhiều địa phương khác nhau cũng dần dần đến sinh sống tại địa điểm tụ cư này để buôn bán và làm ăn. Vì thế Giáo sư sử học Trần Quốc Vượng khi nghiên cứu về Phố Hiến đã khái lược không gian của đô thị Phố Hiến với 6 chữ “Thượng Tam Đằng, Hạ Tam Hoa."
Hiện nhiều học giả cho rằng tên Phố Hiến có thể xuất hiện vào cuối thế kỷ 15, khi vua Lê Thánh Tông (1460-1497) phân chia đất nước thành 12 đạo thừa tuyên. Mỗi thừa tuyên có ty hiến sát để giám sát, kể cả kiểm soát đường thủy. Có lẽ, vì ty Hiến sát trên dải đất bờ sông này mà phố buôn được quen gọi là Phố Hiến.
Tuy nhiên, phải đến thế kỷ 17, Phố Hiến mới trở thành một trung tâm chính trị, kinh tế có nhiều mối giao lưu quốc tế. Lúc này, ở Phố Hiến có lị sở của trấn thủ xứ Sơn Nam, ty Hiến sát xứ Sơn Nam, các trạm tuần ty kiểm soát thuyền bè trong ngoài nước, một đoạn sông tấp nập các thuyền bè đi lại và đỗ bến, những chợ phố đông đúc, các thợ thủ công và thương nhân người Việt, người Trung Quốc, Nhật Bản và phương Tây như: Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Anh, Pháp, Hà Lan...
Phố Hiến xưa nằm sát bên bờ tả ngạn sông Hồng nhưng do phù sa bồi đắp nên ngày nay đã ở cách dòng sông khoảng chừng 2km. Theo đường sông, Phố Hiến cách Hà Nội 55km. Trước đây, từ Thăng Long xuôi thuyền xuống Phố Hiến mất khoảng 2 ngày, ngược dòng lên Kinh đô mất 3 ngày. Vị trí của Phố Hiến có vai trò đặc biệt quan trọng đối với các tuyến giao thông đường thủy thuộc hệ thống sông Hồng-sông Thái Bình nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ.
Các nhà địa chất chia châu thổ Bắc Bộ thành 3 vùng, tương ứng với ba thời kỳ kiến tạo lớn: Thượng châu thổ với đỉnh của các triền sông là Việt Trì; Trung châu thổ với đỉnh là Cổ Loa; và Hạ châu thổ với đỉnh là Phố Hiến, từ đó các nhánh sông trải ra vùng đồng bằng như những chiếc nan quạt.
Bằng đường thủy, từ Phố Hiến có thể liên lạc tới hầu hết các địa phương thuộc các trấn Sơn Nam, Hải Dương, An Quảng. Phố Hiến là nơi trung chuyển, cửa ngõ án ngữ hoặc thông thương của mọi tuyến giao thương đường sông từ vùng biển Bắc Bộ đi sâu vào đất liền tới Kinh thành Thăng Long, qua các tuyến sông Đáy, sông Hồng, sông Thái Bình.
Thương cảng Phố Hiến vang bóng một thời nay là dải bãi bồi từ thôn Đằng Châu (phường Sơn Lam) đến thôn Nễ Châu (nay thuộc xã Tân Hưng). Sử sách và ký ức truyền lưu bao đời kể rằng vào thời hưng thịnh, thế kỷ 17-18, thương cảng này đã từng đón bao thuyền buôn đến từ Trung Quốc, Nhật Bản, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Pháp và xứ Đàng Trong…
Thuở đó, Phố Hiến trải dài bờ tả ngạn sông Xích Đằng (tên địa phương của sông Hồng), có vị trí giao thương đường thủy thuận lợi. Từ vịnh Bắc Bộ, tàu bè có thể theo các sông Hồng, Thái Bình, Đáy để vào sâu trong đất liền, nhưng đều phải qua Phố Hiến mới đến được Thăng Long. Vì vậy, ngoài bán buôn, Phố Hiến còn là trạm hải quan.
Nhiều nhà hàng hải phương Tây đã vào Việt Nam theo ngã sông này, trong đó ông William Dampier kể cụ thể là đã quan sát Phố Hiến có khoảng 3.000 nóc nhà ở 20 phường vào năm 1688. Còn Samuel Baron, con lai của một phụ nữ Việt và Giám đốc thương điếm Hà Lan Hendrik Baron ở Phố Hiến cũng đã khắc lên bia đá dòng chữ tưởng niệm “Baron 1680."
Về sau, Samuel Baron làm việc cho Công ty Đông Ấn (Compagnie des Indes Orientales) và ở Phố Hiến.
Đến thế kỷ thứ 17, thương cảng Phố Hiến ngày càng tấp nập tàu hàng. Sách Đại Nam Nhất Thống Chí miêu tả: “Cung cũ Hiến Nam ở địa phận xã Nhân Dục, huyện Kim Động là lỵ sở trấn Sơn Nam đời Lê. Phàm người nước ngoài đến buôn bán thì tụ tập ở đây gọi là Vạn Lai Triều, phong vật phồn thịnh, nhà ngói như bát úp."
Các thuyền mành bằng gỗ của Trung Quốc, Xiêm La và các nước châu Á khác có thể neo đậu sát bờ sông Hồng, còn thuyền châu Âu lớn thường neo ở vùng nước sâu giữa sông. Các thương điếm phương Tây đã được dựng lên ở Phố Hiến như Thương điếm Anh (1672-1683), Thương điếm Hà Lan (1637-1700). Riêng thương điếm Hà Lan hiện diện đến 64 năm ở Phố Hiến, trải qua 13 đời giám đốc.
Nhật trình của Công ty Đông Ấn ghi lại rằng trong hơn 10 năm từ 1672-1683, có khoảng 30 chuyến tàu viễn dương phương Tây đến thương cảng Phố Hiến. Cụ thể, vào năm 1637, thương gia Hà Lan Karel Hartsinck giong thuyền tới Phố Hiến đã gặp nhiều tàu Bồ Đào Nha chở đầy tơ sống vào tận Thăng Long.
Sách Đại Nam Nhất Thống Chí ghi rằng bến Xích Đằng ở mạn Bắc Phố Hiến bao gồm cả bốn bến đò Kệ Châu, Quan Xuyên, Nhân Dục và Phương Trù. Còn mạn Nam Phố Hiến có bến Nễ Châu, nơi mà tàu thuyền hạng nặng phương Tây thường neo đậu.
Thời hưng thịnh, Phố Hiến đã có những chợ rất lớn như chợ Vạn ở bến Xích Đằng, chợ Hiến, chợ Bảo Châu ở bến Nễ Châu. Phố phường sinh sống của người dân và thương buôn quây quanh các ngôi chợ này như Cựu đê thị (phường đê cũ), Ngoại đê thị (phường ngoài đê), Hà khẩu thị (phường cửa sông)…
Ngoài ra, một số phường còn được đặt tên theo hàng buôn như Thuộc bì thị (phường thuộc da), Hàng chén thị (phường Hàng chén), Hoa lạp thị (phường nón hoa)…
Thời vàng son ở Phố Hiến, nơi bán buôn trù phú nhất là các phố phường của Hoa kiều. Thương khách Nhật cũng đến ở thương cảng này từ đầu thế kỷ XVII, chủ yếu để đổi bạc, đồng lấy tơ lụa. Sau khi Mạc phủ Tokugawa ban lệnh tỏa quốc, nhiều người quyết định ở lại Phố Hiến. Ngoài buôn bán, họ làm thêm nhiều nghề như hoa tiêu, phiên dịch, môi giới. Người Hà Lan, Bồ Đào Nha cũng đến Phố Hiến rất sớm.
Mạch máu giao thương của Phố Hiến là sông Xích Đằng - đoạn sông Nhị Hà chảy sát Phố Hiến (nay không còn). Đây là nơi trung chuyển và là điểm tụ hội của những đoạn đường sông từ biển Đông vào tới kinh thành Thăng Long như tuyến Đàng Ngoài, nhiều tuyến sông khác.
Bến cảng Phố Hiến là nơi các tàu thuyền ngoại quốc lưu đỗ để làm thủ tục kiểm soát và xin giấy phép đi tiếp tới Kinh đô. Cùng với bến cảng sông là một các khu chợ khá sầm uất như chợ Vạn ở bến Xích Đằng, chợ Hiến bên cạnh lỵ sở Sơn Nam, chợ Bảo Châu… Những chợ này đã vượt khỏi khuôn khổ những chợ địa phương để trở thành các chợ liên vùng. Thuyền bè từ Thăng Long-Kẻ Chợ và các trấn gần xa trong nước cũng như nước ngoài đã đến đây buôn bán, trao đổi hàng hóa.
Khu phường phố là khu định cư của người Việt và các kiều dân ngoại quốc (chủ yếu là người Hoa) sản xuất và buôn bán với tính chất cố định ở Phố Hiến. Dựa theo các văn bia ở chùa Hiến (1709) và chùa Chuông (1711), Phố Hiến thời đó có khoảng 20 phường Qua các bi ký, có thể đọc được 13 phố và 32 tên cửa hiệu buôn bán như các Tân Thị, Tân Khai, Tiên Miếu, Hậu Trường...
Trong thế kỷ 17, có hai thương điếm phương Tây đã được dựng lên ở Phố Hiến: thương điếm Hà Lan (1637-1700) và thương điếm Anh (1672-1683). Đây là văn phòng đại diện kiêm nhà kho của các Công ty Đông Ấn của Hà Lan và Anh. Đây là một quần thể kiến trúc được xây bằng gạch, nằm ở phía dưới Phố Hiến, quãng gần thôn Nễ Châu và Vạn Mới.
Từ thế kỷ 18, quần thể kiến trúc này đã bị hủy hoại, trở thành đồng ruộng. Đến cuối thế kỷ 19, tác giả người Pháp G. Dumoutier đã miêu tả Phố Hiến mang những nhu cầu tâm linh văn hóa của nhiều cộng đồng người khác nhau, thể hiện qua những công trình kiến trúc.
Nổi bật là các phong cách kiến trúc Việt Nam và phong cách kiến trúc Trung Hoa (với sắc thái vùng Phúc Kiến, phía Nam Trung Quốc), thấp thoáng có phong cách kiến trúc châu Âu (nhà thờ Gôtích Phố Hiến). Nhiều khi, các phong cách kiến trúc đó pha trộn lẫn nhau. Nhà thờ Kitô giáo ở Phố Hiến là một nhà thờ cổ, xây dựng từ thế kỷ 17 theo kiểu Gôtích. Cũng như ở các đô thị Việt Nam khác, bên cạnh những kiến trúc bằng gạch ngói, đại bộ phận nhà ở của dân đều bằng gỗ tre nứa, lại ở sát nhau. Nhiều vụ hỏa hoạn đã xảy ra. Trong lịch sử, Phố Hiến là một đô thị đa quốc tịch, trong đó nhiều nhất là người Việt và người Hoa. Những kiều dân ngoại quốc khác ở đây là Nhật, Xiêm La, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh, Pháp…
Phần lớn người Việt cư ngụ ở Phố Hiến là từ các địa phương khác đổ về sinh sống làm ăn, đó là một cộng đồng cư dân tứ xứ. Bên cạnh cộng đồng người Việt, đông đảo người Hoa đã đến cư trú tại Phố Hiến. Địa điểm tụ cư đầu tiên của người Hoa ở Phố Hiến là Hoa Dương, sau gộp thêm các xã Hoa Điền (Lương Điền), Hoa Cái (Phương Cái) hợp thành Tam Hoa.
Các cửa hiệu của Hoa kiều được tập trung ở Phố Khách, phố Bắc Hòa, Nam Hòa; nhiều nhà xây gạch ngói. Họ xây dựng nhiều đình, đền, chùa, miếu, quảng hội thờ các vị nhân thần người Trung Quốc như Quan Vân Trường, Dương Quý Phi, Lâm Tức Mặc.
Khi việc buôn bán giữa phương Tây và Phố Hiến sa sút thì các Hoa thương vẫn trụ lại, gần như nắm giữ độc quyền các hoạt động ngoại thương. Lúc này cũng có hiện tượng một số Hoa thương ở Phố Hiến di cư ngược trở lại Thăng Long-Hà Nội, như trường hợp các gia đình họ Phan ở phố Hàng Ngang. Hiện nay, vẫn có tới 14 họ thuộc các Hoa Kiều sinh sống ở Phố Hiến-Hưng Yên như các họ Ôn, Tiết, Hoàng, Lý, Trần, Bạch, Quách, Mã, Thái, Hà, Hứa, Từ, Lâm, Khu.
Người Nhật cũng đã đến Phố Hiến từ rất sớm vào khoảng đầu thế kỷ 17. Họ thường mang bạc, đồng đến mua đổi lấy các loại tơ hoặc vải lụa. Một số khác là các giáo sĩ và giáo dân Nhật Bản, có tên đạo theo chữ La Tinh, đã đi theo và phục vụ các giáo sĩ phương Tây tới Đàng Ngoài giảng đạo. Vì đã sinh sống lâu năm ở Việt Nam, những người Nhật này thường làm một số nghề như hoa tiêu dẫn tàu vào cửa sông, phiên dịch, môi giới.
Phố Hiến từ nơi tụ cư, một thị trấn phát triển thành một đô thị lớn vào thế kỷ XVII đã luôn mang tính nổi trội đậm sắc thái kinh tế. Lúc đầu là các hoạt động buôn bán qua mạng lưới chợ. Sau đó, thương nghiệp ngày càng phát triển và trở thành hoạt động kinh tế mũi nhọn chủ yếu, đặc biệt là ngoại thương do lợi thế là một bến sông, đầu mối của các tuyến giao thông vùng.
Điểm tụ cư ban đầu của số người Hoa tị nạn (làng Hoa Dương) cũng là một hạt nhân kinh tế sẽ phát triển mạnh mẽ trong những thời kỳ sau. Bước chuyển về chất trong đời sống kinh tế của Phố Hiến là khi có sự tác động của một nhân tố chính trị vào nền tảng kinh tế đó và hệ quả là sự chuyển dịch trọng tâm từ những yếu tố nội sinh sang những yếu tố ngoại sinh.
Thời kỳ phồn thịnh nhất của Phố Hiến là vào khoảng giữa thế kỷ 18 (1730-1780). Sau đó là quá trình suy thoái, diễn ra trong gần 2 thế kỷ để cuối cùng trở thành tỉnh lỵ Hưng Yên.
Một trong những nguyên nhân là hệ thống đê điều sông Hồng ngày càng được hoàn thiện đã hạn chế phù sa chảy vào đồng ruộng, để nó tự bồi lắng trên chính lòng sông. Bến cảng Phố Hiến cũng bị bồi lắng. Lòng sông nông dần và ngày càng bị kéo ra xa bờ làm việc bốc dỡ hàng hóa trở nên khó khăn. Biểu hiện rõ nhất của sự suy thoái của Phố Hiến là sự sa sút trong các hoạt động buôn bán với nước ngoài.
Mặt khác, lúc này tình hình chính trị khu vực và hệ thống kinh tế thương mại biển Đông cũng đã có những chuyển biến. Trung Quốc bãi bỏ lệnh hải cấm, mở ra một thị trường đông đúc hấp dẫn. Nhật Bản cũng chuyển sang chiến lược xuất khẩu bạc, vàng, tơ lụa. Các tuyến buôn bán đường biển trực tiếp trở nên thông thoáng hơn, không cần qua khâu trung gian, như trường hợp Đàng Ngoài.
Trong hoàn cảnh đó, ngoại thương Việt Nam và ở Phố Hiến nói riêng đã giảm thiểu đáng kể. Các thương điếm phương Tây ở Phố Hiến và Kẻ Chợ lần lượt đóng cửa, các tàu buôn phương Tây hầu như rất ít còn lại vùng Đàng Ngoài. Phố Hiến vắng hẳn các khách buôn nước ngoài, trừ người Trung Quốc là còn ở lại buôn bán.
Thế kỷ 19, khi kinh đô chuyển vào Huế, một làn sóng của thương nhân Trung Hoa ồ ạt nhập cư vào Hà Nội, phần nào cũng làm cho Phố Hiến trở nên vắng đi. Cũng trong quá trình suy thoái về kinh tế, Phố Hiến đã mất dần đi vai trò quan trọng về chính trị. Bến cảng Phố Hiến do sự bồi lở của sông Hồng ngày càng trở nên bất tiện, làm Phố Hiến ngày càng cách xa dòng sông. Vì vậy, năm 1726, chính quyền Lê-Trịnh đã chuyển dời trấn lỵ Sơn Nam sang bên hữu ngạn sông Hồng thuộc huyện Duy Tiên. Năm 1741, trấn Sơn Nam được tách thành Sơn Nam thượng và Sơn Nam hạ, trọng tâm chính trị đã chuyển xuống mạn dưới, ở Vị Hoàng (Nam Định).
Cũng trong thế kỷ 18, nhiều biến động xã hội, chính trị đã diễn ra tại địa bàn Phố Hiến. Năm 1730, đê Mạn Trù vỡ, dân của nhiều vùng ở Sơn Nam trở nên nghèo đói, phải tha phương cầu thực. Tiếp đến là những cuộc khởi nghĩa của Hoàng Công Chất và Nguyễn Hữu Cầu đã tàn phá vùng này, càng làm cho tiềm lực kinh tế của Phố Hiến kiệt quệ. Rồi sau đó là cuộc chiến giữa Tây Sơn và chúa Trịnh.
Sang đến thế kỷ 19, dưới triều Nguyễn, vai trò một đô thị kinh tế, một thương cảng quốc tế của Phố Hiến ngày nào giờ đây không còn nữa.
Trải qua biết bao thăng trầm biến động của lịch sử, Phố Hiến thành thị xã Hưng Yên, rồi là thành phố Hưng Yên trực thuộc tỉnh Hưng Yên năm 2009.
Thực hiện cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Từ ngày 1/7/2025, tỉnh Hưng Yên và tỉnh Thái Bình hợp nhất thành tỉnh Hưng Yên, phường phố Hiến với diện tích 21,5km2 với dân số gần 70.000 người, nơi có cảng thị Phố Hiến xưa, trở thành trung tâm hành chính của tỉnh Hưng Yên mới.
Những năm qua, tỉnh Hưng Yên đã có nhiều đề án, chủ trương và dành nguồn ngân sách để trùng tu, tôn tạo các di tích, nằm trong quần thể Di tích Quốc gia Đặc biệt Phố Hiến.
Gần đây nhất, ngày 20/12/2025, tại phường Phố Hiến, Ủy ban Nhân dân tỉnh Hưng Yên phối hợp với Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức Hội thảo khoa học-thực tiễn về phục dựng, tái hiện, hồi sinh di sản Phố Hiến gắn với kiến tạo hệ sinh thái du lịch sáng tạo trên địa bàn tỉnh Hưng Yên hiện nay.
Với tầm vóc, ý nghĩa quan trọng đặc biệt của Phố Hiến, nhất là sự quyết tâm phục dựng, tái hiện, hồi sinh di sản Phố Hiến, hội thảo đã có sự tham dự của lãnh đạo chủ chốt tỉnh Hưng Yên và Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh các nhà khoa học đầu ngành của đất nước và doanh nghiệp tham dự.
Tại hội thảo, các đại biểu phân tích sâu giá trị lịch sử-văn hóa đặc sắc của đô thị cổ Phố Hiến. Các ý kiến tại hội thảo đề nghị tỉnh nghiên cứu phát triển chuỗi liên kết du lịch vùng dọc sông Hồng, kết nối Phố Hiến với Thăng Long-Tam Chúc-Tràng An-Bái Đính-Cồn Vành; đồng thời sớm hoàn thiện cơ chế quản lý, huy động nguồn lực xã hội hóa, thành lập Hội đồng quản lý di sản Phố Hiến, xây dựng Quỹ Phát triển di sản nhằm bảo đảm tính bền vững trong quá trình triển khai; sớm hoàn thiện chiến lược phát huy giá trị di sản Phố Hiến theo mô hình “di sản sống”; tăng cường liên kết vùng, thu hút đầu tư, phát triển hạ tầng du lịch đồng bộ; thúc đẩy chuyển đổi số trong bảo tồn, giới thiệu, quảng bá và quản trị điểm đến.
Trước đó, vào tháng 4/2025, Văn phòng Chính phủ đã có công văn truyền đạt ý kiến của Phó Thủ tướng Mai Văn Chính, giao Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với các Bộ liên quan khẩn trương nghiên cứu, đề xuất giải pháp cụ thể về việc triển khai đề án "Xây dựng và phục dựng Phố Hiến cổ" với tổng mức đầu tư hơn 47.000 tỷ đồng trên diện tích hơn 1.700ha, nhằm khôi phục không gian đô thị Phố Hiến cổ.
Dự án phục dựng Phố Hiến được chia thành 4 phân khu chính, gồm: phân khu Phục Hiến (399,3ha), tâm điểm là khu vực tái hiện thương cảng quốc tế Phố Hiến xưa kết hợp không gian kinh tế đêm và các tuyến phố đi bộ đa văn hóa; Phân khu Lễ Hội (427,5ha) là khu vực trung tâm dành cho các hoạt động văn hóa, lễ hội, hội nghị; Phân khu Dịch vụ và biểu diễn Thực cảnh (467ha); Phân khu cây xanh sinh thái ven sông Hồng (415,1ha) tạo không gian trải nghiệm nông nghiệp và thư giãn cho du khách. Ngoài ra, có 4.000 thuyền chèo tay, 100 thuyền gỗ cổ 2 tầng tái hiện các thuyền giao thương từ 12 quốc gia để trải nghiệm đường thủy.
Sau khi hoàn thành, Phố Hiến cổ được kỳ vọng trở thành điểm đến văn hóa-lịch sử tầm cỡ quốc gia và quốc tế. Tỉnh Hưng Yên đang hướng tới việc đề nghị UNESCO công nhận Phố Hiến là Di sản Văn hóa Thế giới, từ đó nâng tầm giá trị và thu hút sự quan tâm quốc tế.
Nội dung: Hùng Xướng
Thực hiện ảnh: Nguyễn Thơi-Đào Ban
Trình bày: Việt Hùng
Bài viết có tham khảo, trích dẫn lại tư liệu của các tác giả, các nhà khoa học trong cuốn "Kỷ yếu Hội thảo khoa học Phố Hiến" được tổ chức tại thị xã Hưng Yên tháng 12/1992 do Ủy ban Nhân dân tỉnh Hải Hưng và Hội khoa học lịch sử Việt Nam tổ chức. Kỷ yếu do Sở Văn hóa Thông tin-Thể thao Hải Hưng xuất bản năm 1994.
(Vietnam+)