Quản trị nguồn vốn con người

Quản trị nguồn vốn con người
2 giờ trướcBài gốc
Từ tăng trưởng GDP đến bài toán quản trị nguồn lực
Thế kỷ XXI đang chứng kiến những thành tựu phát triển kinh tế mạnh mẽ, gắn liền với tiến bộ khoa học, công nghệ của thời đại số và sự vận hành của nền kinh tế thị trường. Trong nền kinh tế thị trường, kinh tế vĩ mô nghiên cứu các chỉ số phản ánh bức tranh tổng thể của nền kinh tế như GDP, lạm phát, thất nghiệp… nhằm đo lường “sức khỏe” chung của nền kinh tế; qua đó định hướng cho Chính phủ trong việc thiết kế và điều hành các chính sách tài khóa, tiền tệ để ổn định, thúc đẩy tăng trưởng và quản lý chu kỳ kinh doanh. Đồng thời, các chỉ số này cũng giúp doanh nghiệp và nhà đầu tư dự báo xu hướng, đánh giá hiệu quả hoạt động và đưa ra quyết định chiến lược.
Trong xây dựng và phát triển nguồn lực con người hiện nay, quản trị việc làm giữ vai trò then chốt Ảnh: Đinh Văn Lương
Tuy nhiên, bức tranh kinh tế vĩ mô chỉ mang ý nghĩa định hướng tổng quát. Có thể thấy GDP được xem là chỉ số vĩ mô quan trọng nhất vì đo lường tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ cuối cùng được tạo ra, phản ánh quy mô, sức khỏe và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế. Dù vậy, GDP vẫn tồn tại những hạn chế đáng lưu ý trong hoạch định chính sách và quản lý kinh doanh. Chẳng hạn, tăng trưởng GDP ở nhiều nền kinh tế đang phát triển chủ yếu dựa vào đầu tư. Hơn nữa, GDP vẫn có thể tăng ngay cả khi các dự án kém chất lượng, thiếu đồng bộ, không kết nối hiệu quả.
Bên cạnh đó, kinh tế vĩ mô chủ yếu trả lời câu hỏi “cái gì” (what) của nền kinh tế thông qua các chỉ số, nhưng lại ít đề cập đến “cách thức” (how), tức hệ thống, quy trình quản lý và sử dụng các nguồn lực quốc gia để đạt được những chỉ số đó. Chính vì vậy, thực tiễn đòi hỏi phải có quản trị kinh tế tốt nhằm tạo lập môi trường ổn định, làm nền tảng cho tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô. Về bản chất, quản trị chính là “cách thức” điều hành nền kinh tế.
Việt Nam đang tích cực chuẩn bị bước vào Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 - 2030, hướng tới mục tiêu đến năm 2030 trở thành quốc gia số ổn định, thịnh vượng, có nền công nghiệp hiện đại và thu nhập cao. Để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân trên 10%/năm, cần áp dụng một mô hình quản trị kinh tế bền vững, nhất quán và xuyên suốt trong chỉ đạo, thiết kế, điều hành và giám sát kế hoạch quốc gia. Trong đó, quản trị đồng bộ và hiệu quả các nguồn lực, gồm tài chính, tài nguyên, sản phẩm, xã hội và đặc biệt là con người, sẽ giữ vai trò quyết định đối với thành công của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030.
Công ăn việc làm - trụ cột của quản trị kinh tế bền vững
Quán triệt quan điểm “lấy con người làm trung tâm” và thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”, trong quản trị kinh tế bền vững, Việt Nam đã đặc biệt chú trọng phát triển nguồn lực con người, với trọng tâm là giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ. Gần đây, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 217/2025/QH15 quy định chính sách miễn, hỗ trợ học phí cho trẻ em mầm non, học sinh phổ thông và người học chương trình giáo dục phổ thông trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Trong xây dựng và phát triển nguồn lực con người hiện nay, quản trị việc làm giữ vai trò then chốt Ảnh: SVN
Tuy nhiên, trong đời sống mỗi con người, thời gian dành cho lao động chiếm tỷ trọng lớn nhất, trung bình trên dưới 40 năm, vì vậy, “lao động” có ý nghĩa quyết định đối với số phận mỗi cá nhân. Trong giai đoạn kháng chiến và xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa, năm 1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đổi tên Đảng thành “Đảng Lao động Việt Nam”, thể hiện tư tưởng đại đoàn kết và nhấn mạnh vai trò trung tâm của lực lượng lao động. Do đó, trong xây dựng và phát triển nguồn lực con người hiện nay, quản trị công ăn việc làm giữ vai trò then chốt, bởi đây không chỉ là nền tảng của tăng trưởng GDP bền vững mà còn là yếu tố tạo nên hạnh phúc và sự phát triển toàn diện của con người.
Trên thế giới, nhiều nhà lãnh đạo và học giả kinh tế hàng đầu cũng khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của công ăn việc làm. Nguyên Thủ tướng Anh David Cameron từng nhấn mạnh: “Đã đến lúc thừa nhận rằng cuộc sống không chỉ xoay quanh tiền bạc; chúng ta cần tập trung không chỉ vào GDP mà còn vào GWB - hạnh phúc nói chung”. Giáo sư Paul Krugman, Nobel Kinh tế năm 2008, cho rằng: “Yếu tố cốt lõi của hạnh phúc là có công ăn việc làm. Ngoài thu nhập ổn định, việc làm còn mang lại sự tự tin và thỏa mãn về giá trị bản thân; vì thế, muốn công chúng hạnh phúc hơn, cần tạo ra nhiều việc làm hơn”.
Với dân số khoảng 100 triệu người, Việt Nam hiện có lực lượng lao động trên 52 triệu người (từ 15 tuổi trở lên, giai đoạn 2024 - 2025). Thị trường lao động xuất hiện nhiều tín hiệu tích cực như số người có việc làm tăng, thu nhập bình quân cải thiện (thu nhập bình quân tháng tăng từ 7,5 triệu đồng quý II/2024 lên 8,2 triệu đồng quý II/2025, tăng 10,7%), cơ cấu việc làm chuyển dịch sang khu vực dịch vụ, công nghiệp, năng suất lao động được cải thiện.
Tuy nhiên, điều kiện làm việc vẫn còn nhiều hạn chế; việc làm chưa bền vững do sản xuất công nghiệp còn nhỏ lẻ. Bên cạnh đó, tiền lương thấp (mỗi người đi làm chưa đủ nuôi thêm một người phụ thuộc), chế độ đãi ngộ thiếu cạnh tranh, môi trường làm việc chưa bảo đảm an toàn, hệ thống đào tạo, tuyển dụng, thang bảng lương còn bất cập. Những yếu tố này khiến đời sống vật chất của người lao động chưa tương xứng với công sức bỏ ra, làm giảm năng suất và khó thu hút nhân tài. Ngoài ra là các thách thức lớn như ô nhiễm môi trường, dịch bệnh, thiên tai, khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng miền và tầng lớp xã hội; cùng với tác động của công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI) có thể tự động hóa nhiều ngành nghề, làm gián đoạn các mô hình tăng trưởng truyền thống và gia tăng nguy cơ thất nghiệp, bất bình đẳng.
Những rủi ro nêu trên cho thấy, yêu cầu cấp thiết hiện nay không chỉ là điều hành các chỉ số kinh tế vĩ mô, mà là đổi mới nền tảng quản trị kinh tế theo hướng lấy nguồn lực con người và công ăn việc làm làm trung tâm. Quản trị hiệu quả nguồn vốn con người không chỉ nhằm tạo thêm việc làm về số lượng, mà quan trọng hơn là nâng cao chất lượng việc làm, điều kiện lao động và thu nhập, qua đó bảo đảm an sinh xã hội, thu hẹp bất bình đẳng và hiện thực hóa mục tiêu “không để ai bị bỏ lại phía sau” trong bối cảnh kinh tế - xã hội đang biến đổi nhanh chóng.
Trong nền kinh tế thị trường ngày càng hoàn thiện, quản trị nguồn lực con người không thể dừng lại ở cách tiếp cận quản lý hành chính hay phân bổ lao động mang tính cơ học. Ngược lại, quản trị kinh tế bền vững đòi hỏi tư duy kiến tạo: chủ động xây dựng môi trường lao động ổn định, cạnh tranh lành mạnh; thúc đẩy liên kết giữa giáo dục - đào tạo - thị trường lao động; và đưa ra các quyết định chính sách nhất quán, hướng tới mục tiêu phát triển việc làm bền vững, phù hợp với chiến lược tăng trưởng dài hạn của quốc gia.
Quan trọng hơn, quản trị nguồn vốn con người cần được đặt trong một khuôn khổ thể chế linh hoạt, cho phép thích ứng với thay đổi của công nghệ, chuyển đổi số và tự động hóa, thay vì chỉ áp đặt những quy định cứng nhắc. Đó là sự kết hợp giữa khuôn khổ pháp lý rõ ràng, trách nhiệm giải trình minh bạch và không gian cho đổi mới sáng tạo trong phát triển việc làm. Khi các ý tưởng đổi mới được triển khai hiệu quả, nền kinh tế không chỉ tạo ra nhiều việc làm hơn, mà còn giúp người lao động nâng cao năng suất, cải thiện chất lượng sống, góp phần đem lại hạnh phúc và phồn vinh bền vững cho dân tộc.
TS. Đoàn Duy Khương
Nguồn Đại Biểu Nhân Dân : https://daibieunhandan.vn/quan-tri-nguon-von-con-nguoi-10402402.html