Quy hoạch Hà Nội 100 năm: Đô thị đa tầng - đa lớp

Quy hoạch Hà Nội 100 năm: Đô thị đa tầng - đa lớp
một giờ trướcBài gốc
Một góc Thủ đô Hà Nội. Ảnh: Thảo Ngân - Mekong ASEAN.
UBND TP Hà Nội vừa phê duyệt Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm. Đây là bản quy hoạch dài hạn nhất từ trước đến nay của thành phố, xác lập chiến lược phát triển đến năm 2085 và xa hơn, đồng thời định hình lại toàn bộ cấu trúc không gian, mô hình tăng trưởng, giao thông, dân cư, môi trường và kinh tế của Thủ đô trong nhiều thế hệ tới.
Phạm vi quy hoạch gồm toàn bộ địa giới hành chính Thủ đô Hà Nội, với 126 đơn vị hành chính cấp xã (51 phường, 75 xã). Quy mô lập quy hoạch khoảng 3.359,84 km2 (335.984 ha).
Ranh giới lập quy hoạch: Phía Bắc giáp tỉnh Thái Nguyên, tỉnh Phú Thọ; phía Nam và Tây Nam giáp tỉnh Ninh Bình, tỉnh Phú Thọ; phía Đông giáp tỉnh Bắc Ninh, tỉnh Hưng Yên; phía Tây và Tây Bắc giáp tỉnh Phú Thọ.
Về quy mô dân số, giai đoạn đến năm 2035 dự báo khoảng 14 - 15 triệu người. Giai đoạn đến năm 2045 dự báo khoảng 15 - 16 triệu người. Giai đoạn đến năm 2065 dự báo khoảng 17 - 19 triệu người.
Giai đoạn dài hạn đến năm 2085 và xa hơn: Cơ bản giữ ổn định, khống chế quy mô dân số tối đa không quá 20 triệu người; đảm bảo quy chuẩn về mật độ dân số (Đô thị có thể đáp ứng ngưỡng chịu tải tối đa khoảng 22 - 25 triệu người với dự báo phát triển gia tăng tạm trú, khách vãng lai, làm việc, học tập, giao thương, khách nghỉ dưỡng, chăm sóc sức khỏe, khách du lịch).
Về quy mô đất đai (tỷ lệ đất xây dựng đô thị), đến năm 2035 tỷ lệ đất xây dựng đô thị chiếm khoảng 40% - 45% tổng diện tích tự nhiên. Đến năm 2045 nâng tỷ lệ đất xây dựng đô thị lên khoảng 45% - 50% tổng diện tích tự nhiên, phát triển theo mô hình “nén – xanh”.
Đến năm 2065 tỷ lệ đất xây dựng đô thị chiếm khoảng 55% - 60% tổng diện tích tự nhiên. Phần quỹ đất còn lại được bảo vệ nghiêm ngặt để duy trì tỷ lệ rừng, phát triển rừng (>6,2% tổng diện tích đất toàn thành phố) và cấu trúc hành lang xanh của Thủ đô.
Đến năm 2085 và xa hơn: Giữ phát triển ổn định; tập trung hoàn thiện, hoàn chỉnh, nâng cao chất lượng theo cấu trúc quy hoạch được duyệt.
Theo quy hoạch, giai đoạn 2026 - 2035, Hà Nội phấn đấu tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân đạt trên 11%/năm; quy mô GRDP năm 2035 đạt khoảng 200 tỷ USD; GRDP bình quân đầu người đạt tối thiểu 18.800 USD. Năm 2035, kinh tế số chiếm 50% trong GRDP; công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 10% trong GRDP của thành phố; đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng đạt 60%.
Giai đoạn 2036 – 2045, tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân đạt trên 11%/năm; quy mô GRDP năm 2045 đạt khoảng 640 tỷ USD; GRDP bình quân đầu người đạt tối thiểu 42.000 USD. Năm 2045, công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 12% trong GRDP của thành phố.
Giai đoạn 2046 – 2065, tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân trên 5%/năm; quy mô GRDP năm 2065 đạt khoảng 1.920 tỷ USD; GRDP bình quân đầu người đạt tối thiểu 95.000 USD. Năm 2065, công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 15-20% trong GRDP của Thành phố.
Giai đoạn 2066-2085, tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân 4-5%/năm; GRDP bình quân đầu người đạt tối thiểu 200.000 USD.
Đô thị đa tầng - đa lớp
Ảnh minh họa.
Điểm đột phá lớn của quy hoạch là mô hình đô thị "đa tầng - đa lớp" giúp tối ưu hóa không gian. Thay vì chỉ mở rộng theo chiều ngang, Hà Nội chuyển sang khai thác không gian theo chiều đứng và tích hợp nhiều giá trị trong cùng một không gian đô thị. Không gian đô thị được chia thành ba lớp lớn, gồm ngầm, mặt đất và trên cao.
Dưới lòng đất, thành phố quy hoạch các tầng không gian riêng biệt. Tầng nông từ mặt đất đến độ sâu 15 m ưu tiên cho thương mại, hành lang đi bộ ngầm, bãi đỗ xe và hạ tầng kỹ thuật. Tầng trung từ 15-30 m bố trí đường sắt đô thị, kho bãi ngầm, hào kỹ thuật và công trình phòng tránh thiên tai. Tầng cận sâu từ 30-50 m dành cho hạ tầng chiến lược, hệ thống trữ nước ngầm quy mô lớn và công trình quốc phòng, an ninh. Tầng sâu dưới 50 m được bảo vệ nghiêm ngặt làm không gian dự trữ lâu dài.
Hà Nội đặt mục tiêu tỷ lệ xây dựng không gian ngầm khu vực trung tâm đạt trên 20% vào năm 2045 và khoảng 40% vào năm 2065.
Trên mặt đất, quy hoạch ưu tiên không gian cho con người, cây xanh, mặt nước và bảo tồn di sản. Trong khi đó, không gian trên cao hướng tới phát triển các tổ hợp cao tầng gắn với giao thông công cộng, cầu đi bộ trên cao và "kinh tế tầm thấp" như taxi bay, drone, logistics trên không, giám sát đô thị thông minh.
Trong cấu trúc "đa lớp", Hà Nội xác định 4 lớp giá trị cùng tồn tại gồm di sản - văn hóa, sinh thái - tự nhiên, xã hội - cộng đồng và kinh tế - hạ tầng số. Nghĩa là mỗi không gian đô thị phải đồng thời phục vụ bảo tồn lịch sử, nâng chất lượng sống, phát triển kinh tế và vận hành bằng công nghệ số.
Cải tạo, tái thiết và tái cấu trúc đô thị
Quy hoạch đề cập việc thực hiện chiến lược tái cấu trúc đô thị trên nguyên tắc “Cải tạo tích cực - Tái thiết thích ứng”, nâng cao chất lượng môi trường sống, tối ưu hóa giá trị đất đai và bảo tồn bản sắc Thủ đô.
Trong đó, thực hiện tái thiết khu vực trung tâm (CBD) gắn kết chặt chẽ với Trục cảnh quan sông Hồng tạo diện mạo đô thị hiện đại và năng động. Hồi sinh hệ thống sông nội đô (sông Nhuệ, sông Tô Lịch, sông Đáy, sông Tích,...). Kết hợp chỉnh trang cảnh quan với xây dựng hạ tầng kỹ thuật tích hợp đa năng nhằm giải quyết triệt để tình trạng ô nhiễm môi trường, úng ngập và giảm tải ùn tắc giao thông; hình thành các trục hành lang xanh bền vững xuyên suốt trong lòng đô thị.
Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, lịch sử tại các khu vực: Phố Cổ (36 phố phường), Phố Cũ và các khu vực dân cư đặc trưng lâu đời.
Cải tạo, tái thiết và phát huy giá trị khu vực hồ Tây và vùng phụ cận; bảo vệ nghiêm ngặt các vùng di tích, di sản chiến lược như: Hoàng thành Thăng Long, Cổ Loa, Văn Miếu - Quốc Tử Giám và các không gian văn hóa đặc trưng khác.
Mở rộng cải tạo, tái thiết, tái cấu trúc các khu vực Vành đai 1, Vành đai 2, Vành đai 3 và lan tỏa ra các khu vực đô thị và nông thôn trên nguyên tắc đảm bảo hiệu quả, nâng cao chất lượng đô thị và đảm bảo môi trường, sinh kế của người dân, tạo dư địa, động lực phát triển.
Hướng tới 100% phương tiện xe buýt, taxi sử dụng năng lượng xanh
Ảnh minh họa.
Về hạ tầng, quy hoạch xác định xây dựng đồng bộ khép kín và đưa vào khai thác toàn tuyến Vành đai 4, 4.5, Vành đai 5. Thực hiện cải tạo, mở rộng mặt cắt ngang đối với các trục hướng tâm (Đại lộ Thăng Long, Tây Thăng Long, các tuyến Quốc lộ 1A, 6, 32, 21, Trục đường Hà Đông - Xuân Mai, Trục đường kinh tế phía Nam,...), mạng lưới các tuyến đường vành đai, đường liên xã, liên phường, theo cấu trúc mạng, ô bàn cờ.
Tập trung đầu tư xây dựng mới các cầu qua sông Hồng (cầu Tứ Liên, Trần Hưng Đạo, Ngọc Hồi, Mễ Sở, Hồng Hà,...), cải tạo mở rộng cầu Chương Dương… và các cầu qua sông Đuống, sông Đà, khơi thông kết nối hầm, cầu qua các xã vùng sâu, vùng xa (xã đảo Minh Châu, Khánh Thượng - Ba Vì,...) ưu tiên giải pháp hầm vượt sông đa tầng (kết hợp đường bộ và đường sắt) để tiết kiệm quỹ đất giải phóng mặt bằng và bảo vệ cảnh quan.
Quy hoạch xây dựng, mở rộng, nâng cấp, cải tạo với 9 trục động lực đảm bảo quy mô, cấp hạng đường đô thị, tối thiểu 06 làn xe chính (như trục Quốc lộ 1A (đoạn từ Vành đai 1 - hầm Kim Liên đến cầu Giẽ) được mở rộng với bề rộng B= 90m).
Hệ thống đường sắt Thủ đô gồm đường sắt Quốc gia, đường sắt vùng/liên vùng và đường sắt đô thị được tích hợp đồng bộ, tạo thành khung hạ tầng vận tải khối lượng lớn cho toàn Vùng Thủ đô. Trong đó, mạng lưới được tổ chức theo cấu trúc đa cấp “vòng - xuyên tâm - đa cấp”, kết hợp các tuyến trục chính, các tuyến vành đai và các hành lang liên tỉnh, bảo đảm kết nối đồng bộ giữa trung tâm Hà Nội với các đô thị vệ tinh cũng như các tỉnh trong Vùng Thủ Đô.
Chuyển đổi công năng ga Hà Nội thành ga trung tâm của tuyến đường sắt đô thị kết hợp không gian thương mại, văn hóa. Xây dựng tổ hợp công nghiệp đường sắt, quy mô khoảng 250 ha ở phía Nam, thuộc khu vực xã Chuyên Mỹ và xã Ứng Hòa, thành phố Hà Nội phục vụ sản xuất, lắp ráp, bảo trì đầu máy toa xe, nghiên cứu chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và nội địa hóa phụ tùng…
Nâng cấp Cảng hàng không quốc tế Nội Bài (cực phía Bắc) đạt công suất khoảng 50 triệu hành khách/năm, mở rộng quy mô khoảng 1.500 ha về phía Nam. Xây dựng Cảng hàng không thứ 2 Vùng Thủ đô tại cực phía Nam (khu vực xã Ứng Hòa, Chuyên Mỹ) với quy mô khoảng 1.500 ha, công suất dự kiến khoảng 30-50 triệu khách/năm đạt tiêu chuẩn quốc tế, phát triển theo mô hình đô thị sân bay. Nâng cấp, mở rộng, bổ sung chức năng lưỡng dụng cho các sân bay quân sự Gia Lâm, Hòa Lạc.
Phấn đấu tỷ lệ đảm nhận của giao thông công cộng đạt 25%-30% vào năm 2035; 40%-45% vào năm 2045 và 55-60% vào năm 2065. Thiết lập các vùng hạn chế phương tiện cá nhân vào khu vực nội đô lịch sử theo các lớp vành đai đồng bộ với các vùng phát thải thấp; chuyển đổi theo lộ trình, hướng tới 100% phương tiện xe buýt, taxi sử dụng năng lượng xanh.
Nâng cấp, cải tạo, phát triển một số cảng đầu mối kết hợp để gánh vác vai trò logistics đường thủy: Cảng container Phù Đổng, Cảng Giang Biên (cực phía Đông); Cảng Hồng Hà, Cảng Sơn Tây, Cảng Ba Vì (cực phía 62 Tây); cảng Hồng Vân, cảng Vạn Điểm - Phú Xuyên (cực phía Nam); cảng Đa Phúc (cực phía Bắc);....
Xây dựng hệ thống cảng/bến du lịch dọc theo các tuyến sông và hai bên bờ sông kết hợp “Con đường di sản” kết nối Phú Thọ từ khu vực Ba Vì đến Phú Xuyên sang Ninh Bình phục vụ vận tải khách và du lịch.
Đối với khu vực Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng, chỉ bố trí các cảng khách, cảng du lịch, cảng/bến thủy nội địa phục vụ nhu cầu về quốc phòng, an ninh... Từng bước chuyển đổi các cảng hàng hóa và cảng tổng hợp tại khu vực trung tâm Thành phố thành cảng, bến thuyền du lịch để nâng cao hiệu quả khai thác quỹ đất ven sông, đồng thời phù hợp với định hướng tái cấu trúc không gian hai bên sông theo hướng sinh thái - văn hóa - đô thị dịch vụ của Thủ đô.
Đinh Nhung
Nguồn Mekong Asean : https://mekongasean.vn/quy-hoach-ha-noi-100-nam-do-thi-da-tang-da-lop-55207.html