Đặt biến đổi khí hậu vào trục phát triển
Một trong những điểm đáng chú ý của Nghị quyết 02-NQ/TW là cách tiếp cận biến đổi khí hậu theo hướng tích hợp, yêu cầu phát triển Thủ đô “nhanh, bền vững, thông minh, hiện đại, gắn với chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn, thích ứng với biến đổi khí hậu”. Trên cơ sở đó, quy hoạch Thủ đô cụ thể hóa bằng cấu trúc không gian “đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm”.
Một góc không gian đô thị của Thủ đô. Ảnh minh họa: Phạm Hùng
Theo KTS Trần Huy Ánh, Hội KTS Hà Nội: Định hướng này đặt Sông Hồng vào vị trí trục cảnh quan sinh thái – văn hóa chủ đạo, đồng thời tăng cường liên kết với vùng Thủ đô và các hành lang kinh tế. Đây là cách tiếp cận mới, đòi hỏi quy hoạch đang hoàn thiện phải điều chỉnh để phù hợp với yêu cầu phát triển trong bối cảnh biến đổi khí hậu.
Trong cấu trúc mới, hệ thống sông đóng vai trò hạ tầng sinh thái. Không chỉ tạo cảnh quan, các dòng sông còn tham gia điều tiết nước, cải thiện vi khí hậu, tăng khả năng chống chịu. Sông Hồng giữ vai trò trung tâm, kết nối với Sông Đuống, Sông Đáy, Sông Nhuệ, Sông Tô Lịch... hình thành mạng lưới không gian xanh – mặt nước liên hoàn.
Ông Trịnh Quang Dũng, Trưởng phòng Quản lý hoạt động quy hoạch, kiến trúc đô thị, Sở Quy hoạch - Kiến trúc Hà Nội cho biết, quy hoạch định hướng chuyển từ “quay lưng ra sông” sang “quay mặt vào sông”, đưa sông Hồng trở thành trục cảnh quan chủ đạo và không gian mặt tiền của đô thị.
Tuy nhiên, cùng với quá trình hoàn thiện quy hoạch, bài toán bảo đảm nguồn nước sạch đặt ra nhiều vấn đề cần rà soát. Theo KTS Trần Huy Ánh, cơ sở dữ liệu phục vụ lập quy hoạch còn thiếu cập nhật. Một số nội dung vẫn sử dụng số liệu năm 2018, trong khi Quy hoạch tài nguyên nước quốc gia đã được phê duyệt theo Quyết định số 1622/QĐ-TTg chưa được tích hợp đầy đủ.
Mâu thuẫn giữa nguồn nước và định hướng phát triển cũng đã bộc lộ. Quy hoạch xác định sông Hồng mùa cạn chỉ còn khoảng 1–2 tỷ mét khối nước, nhưng vẫn dự báo dân số khoảng 19 triệu người. Trong khi nguồn nước mặt và nước ngầm suy giảm, giải pháp chủ yếu là tăng công suất xử lý, chưa làm rõ khả năng bổ sung nguồn nước đầu vào. Việc mở rộng diện tích đô thị cũng làm giảm không gian thấm, trữ nước tự nhiên.
Từ đó, cần xác lập ngưỡng dân số phù hợp với khả năng cung ứng nước sạch. Đồng thời, bổ sung mô hình khai thác phân tán, tăng cường tái tạo và tuần hoàn nước nhằm bù đắp suy giảm của nguồn nước mặt và nước ngầm.
Từ quy hoạch đến đô thị chống chịu
Từ định hướng của Nghị quyết 02 đến Quy hoạch Thủ đô tầm nhìn 100 năm, thời gian qua, các yêu cầu về thích ứng với biến đổi khí hậu đang từng bước được cụ thể hóa thông qua các dự án hạ tầng thoát nước và tổ chức không gian theo hệ thống.
Một góc không gian đô thị của Thủ đô. Ảnh minh họa: Phạm Hùng
Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng và quy hoạch hai bên Sông Tô Lịch cho thấy sự chuyển dịch rõ nét. Yếu tố nước trở thành nền tảng tổ chức không gian đô thị. Sông Hồng đóng vai trò trục điều tiết chính; các sông nội đô như Tô Lịch, Kim Ngưu, Nhuệ là các nhánh kết nối với hệ thống hồ điều hòa, cống và trạm bơm, tạo thành mạng lưới tiêu thoát nước liên hoàn.
Trong cấu trúc đó, hệ thống hồ điều hòa giữ vai trò tăng dung tích trữ nước, giảm ngập cục bộ, đồng thời tạo không gian cảnh quan. Các công trình được thiết kế theo hướng liên kết thay vì vận hành độc lập.
PGS.TS Nguyễn Hồng Tiến, nguyên Cục trưởng Cục Hạ tầng kỹ thuật (Bộ Xây dựng) cho rằng quy hoạch thoát nước đang chuyển từ tư duy “thoát nhanh” sang giảm dòng chảy, tăng khả năng giữ nước, thấm nước và lưu trữ nước, qua đó bổ cập nước ngầm. Các mô hình như thoát nước bền vững, “thành phố bọt biển” đang được tiếp cận.
Bên cạnh thay đổi về tư duy, quy hoạch cũng đặt ra yêu cầu phát triển đồng bộ hạ tầng kỹ thuật, bao gồm bể ngầm chứa nước, hệ thống kết nối và không gian ngầm phục vụ thoát nước. Ứng dụng công nghệ số được chú trọng nhằm nâng cao hiệu quả vận hành.
Thực tế triển khai tại dự án hồ điều hòa Phú Đô cho thấy rõ hướng đi này. Là một trong 10 công trình trọng điểm, cấp bách của thành phố, dự án hiện đã đạt khoảng 60% khối lượng thi công. Khi hoàn thành, công trình được kỳ vọng sẽ góp phần giảm trực tiếp tình trạng úng ngập tại phường Từ Liêm, đồng thời tăng dung tích lưu trữ nước và từng bước hoàn thiện hệ thống thoát nước của Thủ đô theo định hướng đến năm 2030, tầm nhìn 2050.
Những chuyển động từ chủ trương đến quy hoạch và thực tiễn cho thấy Hà Nội đang định hình mô hình đô thị chống chịu, trong đó yếu tố nước và hạ tầng sinh thái giữ vai trò trung tâm. Khi hệ thống từ sông Hồng, các sông nội đô đến hồ điều hòa, trạm bơm và mạng lưới dẫn được hoàn thiện, đô thị không chỉ phục vụ phát triển kinh tế – xã hội mà còn có khả năng tự điều tiết trước các tác động của biến đổi khí hậu.
Theo KTS Trần Huy Ánh, để hiện thực hóa quy hoạch, yêu cầu tiên quyết là bảo đảm chất lượng ngay từ khâu lập quy hoạch. Nếu tiếp cận lạc hậu, thiếu cơ sở khoa học, việc triển khai sẽ khó khả thi, hiệu quả thấp và lãng phí nguồn lực.
Cùng với việc xây dựng Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm, thành phố đang mời gọi các tổ chức, cá nhân tham gia đóng góp sáng kiến cho các bài toán phát triển lớn, trong đó nhiều nội dung gắn trực tiếp với yêu cầu quy hoạch thích ứng biến đổi khí hậu. Thực tiễn này mở ra khả năng xuất hiện những dự án cụ thể, có tính khả thi và sức hấp dẫn cao, không chỉ bổ sung nguồn lực mà còn thúc đẩy sự tham gia rộng rãi của xã hội.
Đáng chú ý, chính từ những sáng kiến và dự án này có thể hình thành các đề xuất về cơ chế, chính sách phù hợp hơn với thực tiễn, qua đó góp phần hoàn thiện và điều chỉnh nội dung quy hoạch đã công bố, bảo đảm tính khả thi và hiệu quả trong quá trình triển khai.
Lại Tấn