Báo cáo tài chính quý I/2026 của 27 ngân hàng niêm yết cho thấy tín hiệu nợ xấu tăng trở lại trong quý đầu năm sau khi giảm tốc vào quý IV năm ngoái.
Tại ngày 31/3/2026, tổng quy mô dư nợ cho vay của 27 ngân hàng niêm yết ước đạt 14,67 triệu tỷ đồng, tăng 3,75% so với đầu năm. Trong đó, ước tính dư nợ xấu (nợ nhóm 3,4,5) là hơn 291.800 tỷ đồng, tăng 11%.
Mức tăng nợ xấu được dẫn dắt bởi nợ nhóm 3 tăng 36% và nợ nhóm 4 tăng 22%. Nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) chỉ tăng nhẹ, nhưng vẫn chiếm tỷ trọng lớn - khoảng 58% - trong dư nợ xấu.
Tại thời điểm cuối quý I/2026, có 8/27 ngân hàng có nợ nhóm 5 giảm so với đầu năm. Mức giảm mạnh nhất tại VietinBank (-40%), với quy mô nợ có khả năng mất vốn từ 19.800 tỷ về 11.900 tỷ sau một quý. SHB cũng ghi nhận nợ nhóm 5 giảm 16% trong quý I, tuy nhiên nợ nhóm 3 và nhóm 4 tăng mạnh dẫn đến NPL tăng lên 2,6%.
Tại 6 ngân hàng còn lại, mức giảm nợ nhóm 5 hầu hết trong khoảng 3-5%.
Trong khi đó, 19/27 ngân hàng công bố nợ có khả năng mất vốn tăng so với đầu năm. Mức tăng mạnh được ghi nhận tại TPBank (+79%) và HDBank (+57,5%).
Ảnh: T.D tổng hợp từ BCTC
BCTC hợp nhất quý I/2026 của TPBank cho thấy tại cuối quý vừa qua, tổng dư nợ xấu đã tăng 48,5% so với đầu năm lên hơn 5.800 tỷ đồng, được dẫn dắt bởi nợ nhóm 5 tăng 79% lên 2.459 tỷ đồng. Tỷ lệ nợ xấu theo đó tăng lên 1,85% (từ mức 1,29% hồi đầu năm); nhưng vẫn thấp hơn NPL bình quân các ngân hàng niêm yết (khoảng 1,99% tại cuối quý I/2026).
Cùng đó, tỷ lệ bao phủ nợ xấu tại TPBank cũng ghi nhận giảm hơn 23 điểm % về 68%.
HDBank cũng ghi nhận áp lực chất lượng tài sản tiếp tục tăng trong quý I/2026, được đóng góp bởi mức tăng mạnh của dư nợ có khả năng mất vốn.
Tại cuối quý I/2026, dư nợ xấu tại HDBank tăng 17% so với đầu năm lên hơn 15.000 tỷ đồng. Trong đó, nợ nhóm 5 tăng 57,5% lên 5.898 tỷ đồng. Việc tốc độ tăng nợ xấu nhanh hơn đáng kể so với quy mô dư nợ đã đưa NPL của HDBank tại cuối quý I/2026 lên mức 2,6% so với 2,44% hồi đầu năm.
Nợ có khả năng mất vốn tại OCB cũng tăng 18,8% sau một quý, lên 4.552 tỷ đồng và chiếm hơn 63% tổng dư nợ xấu. Tại VPBank, nợ nhóm 5 tăng 19,4% trong quý lên hơn 10.900 tỷ đồng. MB, NamABank cũng ghi nhận nợ nhóm 5 tăng trên 15%.
Nếu xét về số tuyệt đối, tại cuối quý I/2026, SACOMBANK là ngân hàng có quy mô nợ có khả năng mất vốn lớn nhất hệ thống với 30.547 tỷ đồng, tăng 2% so với đầu năm và tương ứng 4,87% tổng dư nợ.
Trước đó, vào quý cuối năm 2025, nợ nhóm 5 tại SACOMBANK đã tăng vọt hơn 20.000 tỷ đồng sau khi ngân hàng tiến hành rà soát và phân loại lại danh mục tín dụng nhằm làm sạch bảng cân đối kế toán sau giai đoạn tái cơ cấu.
Với việc áp lực nợ xấu tăng, đặc biệt là nợ nhóm 5, SACOMBANK tiếp tục tăng mạnh trích lập dự phòng rủi ro tín dụng quý I/2026 gấp hơn 10 lần cùng kỳ (lên 2.023 tỷ đồng), chấp nhận lợi nhuận trước thuế trong quý giảm gần 43%.
Một số ngân hàng như BIDV, VietinBank hay VPBank cũng ghi nhận quy mô nợ nhóm 5 vượt 10.000 tỷ. Tuy nhiên, đây đều là các ngân hàng có dư nợ cho vay thuộc top dẫn đầu hệ thống nên nếu so với tổng quy mô tín dụng toàn ngân hàng, tỷ trọng nợ nhóm 5 chỉ ở mức xấp xỉ 1%.
Ảnh: T.D tổng hợp từ BCTC
Nhìn chung, tại thời điểm 31/3/2026, tỷ lệ nợ xấu bình quân tại 27 ngân hàng đã tăng lên 1,99% so với mức 1,86% hồi quý IV năm ngoái. Trong đó, tỷ lệ nợ nhóm 5 trên tổng dư nợ khoảng 1,15%.
Diễn biến NPL tăng một phần phản ánh hoạt động cơ cấu và xử lý nợ xấu cho danh mục cho vay vào quý IV hàng năm, sau đó về mức bình thường trong quý I năm sau đó; cùng với độ trễ trong việc ghi nhận các rủi ro vào nợ xấu.
Trong nhận định gần đây, SSI Research lưu ý trong thời gian tới, khả năng trả nợ của khách hàng có thể tiếp tục chịu áp lực, hàm ý rủi ro suy giảm chất lượng tài sản gia tăng và nghĩa vụ trích lập dự phòng cao hơn trong những quý tới.
Ảnh: T.D tổng hợp từ BCTC
Diên Vỹ