Tổ chức cho người chấp hành án tử hình ăn, uống (được hưởng bằng 5 lần tiêu chuẩn của ngày Lễ, Tết quy định đối với người bị tạm giam), viết thư, ghi âm lời nói gửi lại gia đình của người chấp hành án.
Điều 77. Hình thức và trình tự thi hành án tử hình
1. Thi hành án tử hình được thực hiện bằng tiêm thuốc độc. Quy trình thực hiện việc tiêm thuốc độc do Chính phủ quy định.
2. Trước khi thi hành án, Hội đồng thi hành án tử hình phải kiểm tra danh bản, chỉ bản, hồ sơ lý lịch của người chấp hành án tử hình; trường hợp người chấp hành án là nữ thì Hội đồng phải kiểm tra các tài liệu liên quan đến điều kiện không thi hành án tử hình theo quy định của Bộ Luật Hình sự.
3. Trước khi bị đưa ra thi hành án tử hình, người chấp hành án được ăn, uống, viết thư, ghi âm lời nói gửi lại gia đình của người chấp hành án.
4. Trình tự thi hành án tử hình được thực hiện như sau:
a) Căn cứ quyết định thi hành án tử hình và yêu cầu của Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình, Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp hoặc Vệ binh hỗ trợ tư pháp thực hiện áp giải người chấp hành án đến nơi làm việc của Hội đồng thi hành án tử hình;
b) Thực hiện yêu cầu của Hội đồng thi hành án tử hình, cán bộ chuyên môn thuộc Công an nhân dân hoặc Quân đội nhân dân tiến hành lăn tay, kiểm tra danh bản, chỉ bản, đối chiếu với hồ sơ, tài liệu có liên quan; chụp ảnh, ghi hình quá trình làm thủ tục lăn tay, kiểm tra và lập biên bản; báo cáo Hội đồng thi hành án tử hình về kết quả kiểm tra;
c) Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình công bố quyết định thi hành án, quyết định không kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và quyết định không kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao không chấp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hoặc kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, văn bản thông báo của cơ quan có thẩm quyền về việc không có quyết định ân giảm hình phạt tử hình.
Ngay sau khi Chủ tịch Hội đồng thi hành án công bố các quyết định, Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp hoặc Vệ binh hỗ trợ tư pháp có nhiệm vụ giao các quyết định trên cho người chấp hành án để người đó tự đọc. Trường hợp người chấp hành án không biết chữ, không biết tiếng Việt hoặc không tự mình đọc được thì Hội đồng thi hành án tử hình chỉ định người đọc hoặc phiên dịch các quyết định trên cho người đó nghe. Quá trình công bố và đọc các quyết định phải được chụp ảnh, ghi hình, ghi âm và lưu vào hồ sơ thi hành án tử hình;
d) Theo lệnh của Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình, cán bộ chuyên môn do cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu chỉ định thực hiện việc thi hành án và báo cáo kết quả cho Chủ tịch Hội đồng;
d) Theo lệnh của Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình, bác sĩ pháp y xác định tình trạng của người đã bị thi hành án tử hình và báo cáo kết quả cho Hội đồng;
e) Hội đồng thi hành án tử hình lập biên bản thi hành án; báo cáo về quá trình, kết quả thi hành án cho Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, cơ quan quản lý thi hành án hình sự. Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu làm thủ tục khai tử tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thi hành án;
g) Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm bảo quản tử thi, tổ chức mai táng, vẽ sơ đồ mộ người đã bị thi hành án. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi mai táng có nhiệm vụ phối hợp với cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu trong việc mai táng và quản lý mộ của người đã bị thi hành án;
h) Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày thi hành án, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu thông báo cho gia đình của người đã bị thi hành án biết, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 78 của Luật này.
Nghị định này quy định về quy trình thực hiện việc tiêm thuốc độc; thuốc tiêm, cở sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện sử dụng cho thi hành án tử hình; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thi hành án tử hình; chi phí mai táng người đã bị thi hành án tử hình và chế độ, chính sách đối với người tham gia thi hành án tử hình bằng tiêm thuốc độc.
Quy trình thực hiện tiêm thuốc độc
Quy trình tiêm thuốc độc đối với người bị thi hành án tử hình được thực hiện như sau:
Chuẩn bị các điều kiện trước khi tiêm thuốc độc
1. Thi hành án tử hình phải thực hiện đúng quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 77 Luật Thi hành án hình sự năm 2025; quy định của Nghị định này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
2. Thuốc sử dụng cho thi hành án tử hình phải được Hội đồng thi hành án tử hình kiểm tra, mở niêm phong và lập biên bản theo quy định.
3. Người bị thi hành án tử hình được cố định vào giường với tư thế nằm ngửa, bảo đảm không làm cản trở sự lưu thông máu.
Tiến hành tiêm thuốc độc
Cán bộ trực tiếp thi hành án tử hình chịu trách nhiệm thực hiện các bước sau:
1. Tiếp nhận 03 liều thuốc từ Hội đồng thi hành án tử hình (trong đó có 02 liều thuốc dự phòng).
2. Xác định tĩnh mạch người bị thi hành án tử hình để thực hiện tiêm thuốc độc; trường hợp không xác định được tĩnh mạch thì báo cáo Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình để yêu cầu cán bộ y tế hỗ trợ xác định tĩnh mạch.
3. Đưa kim tiêm vào tĩnh mạch đã được xác định và nối với đường ống dẫn được gắn sẵn vào máy tiêm thuốc theo quy trình:
Bước 1: Tiêm thuốc làm mất tri giác;
Sau khi tiêm thuốc xong cán bộ chuyên môn thực hiện thi hành án tử hình phải tiến hành kiểm tra nếu người bị thi hành án tử hình chưa mất tri giác thì tiếp tục tiêm thuốc cho đến khi họ mất tri giác;
Bước 2: Tiêm thuốc làm liệt hệ vận động;
Bước 3: Tiêm thuốc làm ngừng hoạt động của tim.
4. Kiểm tra hoạt động tim của người bị thi hành án tử hình qua máy theo dõi điện tim. Trường hợp sau mười phút tiêm xong liều thứ nhất mà người bị thi hành án tử hình chưa chết, cán bộ kiểm tra phải báo cáo Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình để ra lệnh tiêm liều thứ hai.
Sau mười phút tiêm liều thứ hai mà người bị thi hành án tử hình chưa chết, cán bộ kiểm tra phải báo cáo Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình để ra lệnh tiêm liều thứ ba.
Trường hợp tiêm hết liều thuốc thứ ba sau mười phút mà người bị thi hành án chưa chết thì Đội trưởng Đội Thi hành án tử hình phải báo cáo Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình quyết định tạm dừng thi hành án tử hình.
5. Việc thực hiện các bước tiêm theo quy định tại các khoản 3 và 4 Điều này có thể được tiến hành theo phương pháp tự động hoặc trực tiếp.
Kết thúc tiêm thuốc độc
1. Theo lệnh của Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình, bác sĩ pháp y tiến hành kiểm tra, xác định tình trạng của người đã bị thi hành án tử hình và báo cáo kết quả cho Hội đồng thi hành án tử hình.
2. Sau khi bác sĩ pháp y kết luận người đã bị thi hành án tử hình đã chết, theo lệnh của Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình, cán bộ thi hành án tử hình rút kim tiêm, đường ống dẫn ra khỏi người đã bị thi hành án tử hình.
3. Hội đồng thi hành án tử hình lập biên bản theo quy định về việc người bị thi hành án tử hình đã chết.
4. Thuốc dự phòng không sử dụng hết thì cán bộ thi hành án tử hình bàn giao lại để bảo quản theo quy định.
Ngoài ra, Điều 13 của Nghị định 203/2026/NĐ-CP cũng quy định trách nhiệm của trại tạm giam nơi giam giữ người bị kết án tử hình, trong đó nêu rõ việc tổ chức cho người chấp hành án tử hình ăn, uống (được hưởng bằng 5 lần tiêu chuẩn của ngày Lễ, Tết quy định đối với người bị tạm giam), viết thư, ghi âm lời nói gửi lại gia đình của người chấp hành án.
Đồng thời, bàn giao cho gia đình hoặc người đại diện hợp pháp của người đã bị thi hành án tử hình đầy đủ giấy tờ, đồ vật, tài sản, tiền mà người bị thi hành án tử hình gửi lại trong thời gian bị giam giữ (nếu có); hồ sơ của người đã bị thi hành án tử hình theo quy định.
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026./.