Nghiên cứu kỹ Dự thảo Thông tư quy định về chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học, có thể thấy rõ quyết tâm của Bộ Giáo dục và Đào tạo trong việc hợp nhất đồng bộ các quy định: từ quy trình xây dựng, thẩm định đến cơ chế giám sát, hậu kiểm. Đây là hướng tiếp cận tích cực, phù hợp với xu thế tăng cường quản trị chất lượng, thúc đẩy tự chủ đại học gắn với trách nhiệm giải trình.
Đặc biệt, quan điểm nâng chuẩn chất lượng đào tạo sau đại học thông qua việc siết chặt các điều kiện về đội ngũ và hoạt động khoa học là rất cần thiết. Điều này giúp khắc phục tình trạng mở ngành thiếu căn cứ học thuật, thiếu điều kiện bảo đảm thực hiện vốn là "vấn đề nhức nhối" ở một số cơ sở đào tạo thời gian qua. Tuy nhiên, từ góc độ thực tiễn và phát triển nguồn nhân lực, có những điểm trong dự thảo cần được xem xét lại để đảm bảo tính khả thi và sự phát triển bền vững cho toàn hệ thống.
Tránh tư duy "siết" bằng các chỉ số định lượng cứng
Băn khoăn lớn nhất hiện nay trong nội dung dự thảo nằm ở nhóm điều kiện về đội ngũ để mở ngành đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ. Dự thảo hiện quy định mỗi chương trình thạc sĩ phải có ít nhất 05 tiến sĩ và 02 phó giáo sư; chương trình tiến sĩ yêu cầu ít nhất 05 tiến sĩ, 02 phó giáo sư và 01 giáo sư chủ trì. Đi kèm với đó là ngưỡng công bố khoa học bình quân rất cao.
Ảnh minh họa
Phải khẳng định rằng, đào tạo sau đại học phải được triển khai trên nền tảng đội ngũ mạnh. Tuy nhiên, học hàm (Giáo sư, Phó giáo sư) dù là chỉ báo uy tín nhưng không phải là thước đo duy nhất phản ánh năng lực hướng dẫn nghiên cứu hay chất lượng thực sự của một chương trình đào tạo.
Thực tiễn cho thấy, có nhiều nhà khoa học đang có hoạt động nghiên cứu tích cực, có năng lực hướng dẫn luận án tốt nhưng chưa phải là giáo sư. Ngược lại, nếu thông tư quá nhấn mạnh tiêu chí định lượng cứng, chính sách dễ dẫn đến việc các cơ sở đào tạo tìm cách "hợp thức hóa" hồ sơ nhân sự thay vì tập trung vào năng lực đào tạo thực chất và chất lượng của quá trình đào tạo.
Bên cạnh đó, việc đẩy mạnh yêu cầu công bố khoa học trên các tạp chí quốc tế (Scopus/Web of Science) là cần thiết để hội nhập, nhưng nếu coi đây là rào cản tiên quyết thì cần thận trọng. Điều này dễ dẫn đến tâm lý "đếm bài" quốc tế, ưu tiên số lượng hơn là quan tâm đến chiều sâu học thuật và giá trị thực tiễn đối với nhiều công trình công bố trong nước.
Trong bối cảnh nhiều tạp chí quốc tế thu phí công bố rất cao, quy định này có thể vô tình gia tăng áp lực tài chính cho cả cơ sở đào tạo và cá nhân nhà khoa học, gây lãng phí không cần thiết. Nếu siết quá chặt tiêu chí này và yêu cầu quá cao về học hàm khoa học, đào tạo tiến sĩ sẽ trở thành "đặc quyền" của một số rất ít cơ sở giáo dục đại học, làm chậm quá trình phát triển đội ngũ giảng viên có trình độ cao trong các trường đại học và làm gián đoạn quá trình phát triển lực lượng chuyên gia chuyên sâu trong quá trình lao động, sản xuất.
5 giải pháp trọng tâm để chính sách đi vào thực tiễn
Để dự thảo Thông tư thực sự trở thành động lực phát triển, chính sách cần hướng tới chuẩn hợp lý, có phân tầng và có lộ trình rõ ràng. Thay vì thiết kế một mặt bằng điều kiện quá cao ngay từ đầu, tôi đề xuất 5 nhóm giải pháp sau:
Thứ nhất, điều chỉnh tiêu chuẩn đội ngũ phù hợp với thực tế giáo dục đại học Việt Nam hiện nay. Đề nghị giảm yêu cầu học hàm xuống mức mỗi chương trình thạc sĩ có 01 phó giáo sư chủ trì; đối với đào tạo tiến sĩ là 02 phó giáo sư chủ trì (hoặc 1 giáo sư). Điều này giúp các cơ sở có tiềm lực thực chất vẫn có thể vận hành chương trình mà không bị áp lực bởi những con số định lượng quá tầm.
Thứ hai, đa dạng hóa căn cứ đánh giá năng lực học thuật. Năng lực của người chủ trì và hướng dẫn cần được xem xét tổng thể trên nhiều yếu tố: trình độ, kinh nghiệm đào tạo, kết quả nghiên cứu, đề tài khoa học và khả năng xây dựng môi trường học thuật, thay vì chỉ nhấn mạnh vào số lượng bài báo quốc tế như dự thảo quy định.
Thứ ba, phân hóa điều kiện theo định hướng đào tạo. Với các chương trình định hướng nghiên cứu, có thể duy trì yêu cầu học thuật cao hơn. Nhưng với chương trình định hướng ứng dụng, cần nhấn mạnh khả năng nghiên cứu ứng dụng và thực tế triển khai chuyển giao của năng lực đội ngũ trong quá trình đào tạo.
Thứ tư, xây dựng lộ trình và hỗ trợ phát triển. Nên bổ sung cơ chế lộ trình cho các cơ sở chưa đạt ngay ngưỡng cao nhưng có nền tảng học thuật và nhu cầu xã hội rõ ràng. Cách tiếp cận này tạo động lực cho các cơ sở phấn đấu nâng chuẩn thay vì bị loại khỏi khả năng đào tạo sau đại học ngay từ đầu.
Thứ năm, chuyển trọng tâm từ "kiểm soát đầu vào" sang "giám sát đầu ra". Chất lượng đào tạo phải được đánh giá mạnh hơn qua chất lượng luận văn, luận án, năng lực nghiên cứu của người học và mức độ đóng góp của nghiên cứu đối với thực tiễn.
Tôi hoàn toàn thống nhất với tinh thần nâng cao chất lượng và tăng cường trách nhiệm giải trình trong dự thảo thông tư mới. Tuy nhiên, chính sách giáo dục cần mang hơi thở của thực tiễn, tạo hành lang cho sự phát triển bền vững của xã hội. Sự điều chỉnh hợp lý, thực tế sẽ là đòn bẩy quan trọng để vừa nâng tầm chất lượng, vừa tạo điều kiện cho các cơ sở giáo dục phát triển bền vững, góp phần phát triển nguồn nhân lực trình độ cao cho đất nước trong giai đoạn phát triển mới.
PGS.TS. HOÀNG TRUNG HỌC (Học viện Quản lý Giáo dục)