Ngành xi măng đang đối diện với nhiều áp lực từ thị trường. Ảnh: Hoàng Anh
Những áp lực thực tế từ thị trường xi măng
Việt Nam đã chính thức triển khai thí điểm phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính cho giai đoạn 2025-2026 với 110 cơ sở trọng điểm thuộc lĩnh vực nhiệt điện, sắt thép và xi măng. Đây không chỉ là bước thử nghiệm kỹ thuật khắt khe mà còn là thông điệp mạnh mẽ về việc định hình lại phương thức sản xuất và quản trị phát thải tại các doanh nghiệp có lượng phát thải khí nhà kính lớn...
Đặc biệt, với lĩnh vực xi măng trong số các cơ sở được thí điểm phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính giai đoạn 2025-2026 có tới 51/61 cơ sở sản xuất xi măng. Đáng chú ý, hạn ngạch của ngành chiếm tỷ trọng lớn, khoảng 28,8% tổng hạn ngạch quốc gia năm 2025 và 28,1% năm 2026.
Năm 2025, sản lượng xi măng ước đạt khoảng 96,36 triệu tấn, trong khi đó, hạn ngạch phát thải được giao là 69,94 triệu tấn CO2 tương đương, nhưng phát thải thực tế ước lên tới khoảng 84 triệu tấn CO2.
Chia sẻ tại Hội thảo “Vật liệu xây dựng xanh, xu thế phát triển bền vững” diễn ra vào chiều nay ngày 5/5/2026, PGS.TS Lương Đức Long, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Xi măng Việt Nam (VNCA) chỉ ra khoảng cách đáng kể giữa hạn ngạch thí điểm và mức phát thải thực tế của toàn ngành, nhưng điều đáng quan ngại là nhiều doanh nghiệp hiện vẫn chưa thực sự sẵn sàng.
Hiện hơn 80% sản lượng xi măng đến từ các nhà máy quy mô lớn, với mức đầu tư từ hàng trăm triệu đến hàng tỷ USD. Việc cải tạo dây chuyền hoặc thay thế các thiết bị chính trong hệ thống đang vận hành ổn định theo hướng giảm phát thải đòi hỏi nguồn lực tài chính rất lớn.
Trong bối cảnh chưa xuất hiện áp lực kinh tế đủ mạnh - như hạn ngạch phát thải gắn với chi phí tuân thủ hay chế tài xử phạt - nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thực sự chủ động chuyển đổi.
Điều đáng lưu ý, theo thí điểm phân bổ hạn ngạch khí thải đầu năm nay ngành được giao gần 70 triệu tấn CO2. Quá trình phân bổ thí điểm kéo dài đến hết năm 2028, song song hình thành thị trường carbon trong nước cũng có nghĩa, họ chỉ còn ba năm trước khi chính thức bị siết hạn ngạch.
Thực tế, thời gian qua nhiều doanh nghiệp đã có những nỗ lực đáng ghi nhận như tối ưu hóa tiêu thụ điện, tiết giảm nhiên liệu, cải tiến quy trình sản xuất. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là cần nhân rộng các mô hình hiệu quả này trong toàn ngành.
Đáng chú ý, ông Long nhấn mạnh còn thiếu cơ chế rõ ràng về ghi nhận và khấu trừ phát thải đối với việc sử dụng nhiên liệu thay thế, đặc biệt là rác thải sinh hoạt. Dù nhiều nhà máy đã áp dụng giải pháp này nhằm giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch, nhưng chưa có hướng dẫn cụ thể về mức khấu trừ phát thải carbon.
Theo ông, trên thế giới, việc sử dụng rác thải giúp giảm phát thải khí methane từ bãi chôn lấp đã được tính toán và ghi nhận rõ ràng, trong khi tại Việt Nam vẫn thiếu hướng dẫn chi tiết, khiến doanh nghiệp chưa đủ cơ sở để mạnh dạn đầu tư.
Một tấn CO2 chôn lấp được báo giá 132 USD, cao gần gấp bốn lần giá xuất khẩu một tấn clinker thành phẩm. Do đó, nếu mất số tiền trên để chôn lấp khí thải, chắc chắn ngành xi măng phải đóng cửa, ông Long nhấn mạnh.
Các diễn giả tại hội thảo cho rằng phát triển vật liệu xây dựng xanh không còn là xu hướng, mà đã trở thành yêu cầu tất yếu.
Bài toán nào cho tương lai?
Nhìn chung, với ngành xi măng, hiện nay không còn là câu chuyện tăng hay giảm sản lượng, mà toàn ngành đang bị kéo vào một cuộc “tái cân bằng” sâu hơn, nơi chi phí và vấn đề giảm phát thải trở thành hai biến số quyết định.
Những chuyển động mới nhất cho thấy quá trình “tái cân bằng” đang diễn ra rõ nét trong ngành xi măng khi nhiều quốc gia đẩy mạnh đầu tư mở rộng công suất nhằm tối ưu chi phí và gia tăng năng lực cung ứng, trong khi các thị trường có nhu cầu suy yếu buộc phải điều chỉnh giảm sản lượng và tái cơ cấu vận hành. Đồng thời, yêu cầu giảm phát thải đang dần tích hợp trực tiếp vào bài toán chi phí và hiệu quả sản xuất.
Điều này cũng gây áp lực về chính sách lên các doanh nghiệp Việt Nam, buộc doanh nghiệp phải điều chỉnh chiến lược sản xuất - kinh doanh và đẩy nhanh ứng dụng công nghệ, vật liệu thay thế để duy trì năng lực cạnh tranh.
Theo ông Lê Văn Kế, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ, môi trường và vật liệu xây dựng (Bộ Xây dựng), từ nay đến năm 2030 và xa hơn là đến năm 2045, ngành vật liệu xây dựng phải chuyển mình từ một ngành sản xuất truyền thống sang một ngành sản xuất hiện đại, xanh, thông minh, có năng lực cạnh tranh cao, có khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị trong nước và quốc tế.
Theo đó, chiến lược đặt ra mục tiêu cụ thể cho từng nhóm vật liệu chủ yếu trong đó có xi măng, theo hướng công nghệ hiện đại hơn, tiêu hao ít hơn, phát thải thấp hơn, chất lượng cao hơn.
Tuy nhiên, để tạo thuận lợi cho quá trình chuyển đổi này, việc hoàn thiện chính sách pháp luật về vật liệu xây dựng là nhiệm vụ quan trọng để doanh nghiệp rõ ràng hơn trong việc thực thi các yêu cầu của cơ quan quản lý.
Đặc biệt, các quy định cụ thể về cơ chế tính toán, khấu trừ phát thải, đặc biệt với các giải pháp sử dụng nhiên liệu thay thế, đồng thời tăng cường chia sẻ kinh nghiệm quốc tế để hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực và từng bước tham gia sâu hơn vào thị trường carbon.
Một tín hiệu tích cực theo ghi nhận là sự chuyển dịch từ ngành bê tông khi nhiều doanh nghiệp bê tông chuyên nghiệp đã nhận ra lợi ích kinh tế khi sử dụng xi măng có hàm lượng clinker thấp để phối trộn với phụ gia, qua đó vừa giảm chi phí vừa cải thiện biên lợi nhuận.
Bên cạnh đó, áp lực từ các thị trường xuất khẩu như Úc và châu Âu, đặc biệt với cơ chế CBAM (Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon), đang buộc doanh nghiệp phải thay đổi nếu muốn duy trì năng lực cạnh tranh. Ngược lại, nếu sản xuất được xi măng phát thải thấp, đây sẽ là “tấm vé” để tiếp cận những thị trường có yêu cầu cao nhất.
Được biết, ở một góc độ khác, theo Quyết định số 699/QĐ-BNNMT của Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành mới đây, đánh dấu sự bắt đầu của quá trình thí điểm phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính cho hai năm 2025 và 2026.
Việc triển khai dựa trên nền tảng pháp lý từ Nghị định số 119/2025/NĐ-CP của Chính phủ, sửa đổi, bổ sung cho Nghị định số 06/2022/NĐ-CP về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-dôn.
Sự chuyển đổi từ việc kiểm kê khí nhà kính đơn thuần sang phân bổ hạn ngạch phát thải đòi hỏi doanh nghiệp phải có sự hiểu biết thấu đáo về các quy định mới, đặc biệt là sự khác biệt mang tính bản chất giữa hoạt động kiểm kê khí nhà kính và cơ chế phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính.
Việt Dương