Theo Nghị định, các nhà sản xuất, nhập khẩu các sản phẩm, bao bì thuộc Phụ lục I khi đưa ra thị trường Việt Nam phải thực hiện trách nhiệm tái chế theo tỷ lệ và quy cách bắt buộc. Quy định này áp dụng với nhiều nhóm hàng như thực phẩm, mỹ phẩm, thuốc, phân bón, thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, chất tẩy rửa, xi măng…
Nghị định cũng làm rõ chủ thể chịu trách nhiệm tái chế trong từng trường hợp cụ thể. Với sản phẩm có cùng nhãn hiệu nhưng được sản xuất tại nhiều đơn vị khác nhau, tổ chức chịu trách nhiệm ghi nhãn hàng hóa sẽ phải thực hiện nghĩa vụ tái chế. Trường hợp gia công sản phẩm, bên đặt gia công là đơn vị chịu trách nhiệm.
Một điểm đáng chú ý là tỷ lệ tái chế bắt buộc sẽ được điều chỉnh tăng theo chu kỳ 3 năm/lần, mức tăng tối đa không quá 10%. Lần điều chỉnh đầu tiên dự kiến vào năm 2029. Quy định này được đánh giá vừa tạo thời gian thích nghi cho doanh nghiệp, vừa tạo áp lực chuyển đổi sang mô hình sản xuất thân thiện môi trường.
Doanh nghiệp có thể lựa chọn nhiều hình thức thực hiện trách nhiệm tái chế như tự tổ chức tái chế, thuê đơn vị tái chế hoặc ủy quyền cho tổ chức chuyên trách. Tuy nhiên, các đơn vị tham gia tái chế đều phải đáp ứng yêu cầu về giấy phép môi trường theo quy định.
Siết trách nhiệm tái chế, xử lý chất thải của doanh nghiệp. Ảnh: TL
Nghị định cũng thiết lập cơ chế hỗ trợ tài chính cho hoạt động tái chế. Theo đó, các đơn vị tái chế hoặc tổ chức thực hiện trách nhiệm tái chế có thể được hỗ trợ kinh phí dựa trên khối lượng sản phẩm, bao bì tái chế đạt chuẩn. Giá trị mỗi gói hỗ trợ dao động từ 10-20 tỷ đồng tùy nhóm sản phẩm.
Hằng năm, trước ngày 1/6, cơ quan quản lý sẽ công bố các gói hỗ trợ; trước ngày 1/7, doanh nghiệp phải nộp hồ sơ đăng ký. Trong vòng 25 ngày làm việc sau đó, việc xét duyệt sẽ hoàn tất và công khai kết quả. Nếu đơn vị được hỗ trợ không ký hợp đồng đúng hạn, gói hỗ trợ sẽ bị hủy và đơn vị đó không được tham gia trong vòng 5 năm tiếp theo.
Bên cạnh trách nhiệm tái chế, Nghị định cũng quy định rõ nghĩa vụ đóng góp tài chính hỗ trợ xử lý chất thải. Theo đó, các nhà sản xuất, nhập khẩu sản phẩm, bao bì thuộc Phụ lục II phải đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam để hỗ trợ hoạt động thu gom, xử lý chất thải.
Tương tự quy định về tái chế, Nghị định xác định rõ chủ thể chịu trách nhiệm đóng góp tài chính trong trường hợp nhiều doanh nghiệp cùng sử dụng một nhãn hiệu hoặc có hoạt động gia công. Công ty mẹ hoặc đơn vị được ủy quyền cũng có thể đại diện thực hiện nghĩa vụ cho các công ty con, chi nhánh hạch toán độc lập.
Một số trường hợp được miễn thực hiện nghĩa vụ gồm doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu hàng để xuất khẩu, tạm nhập tái xuất hoặc phục vụ nghiên cứu, thử nghiệm; doanh nghiệp có doanh thu dưới 30 tỷ đồng/năm từ các sản phẩm thuộc diện điều chỉnh.
Mức đóng góp tài chính cụ thể đối với từng nhóm sản phẩm, bao bì được quy định chi tiết tại Phụ lục II của Nghị định. Các khoản lãi phát sinh từ tiền đóng góp được sử dụng cho chi phí quản lý nhưng không vượt quá 2% số tiền phân bổ, giải ngân trong năm; phần còn lại tiếp tục được bổ sung cho hoạt động xử lý chất thải.
Đáng chú ý, mức đóng góp tài chính sẽ được điều chỉnh theo chu kỳ 5 năm/lần, với mức tăng tối đa không quá 15% so với chu kỳ trước. Lần điều chỉnh đầu tiên dự kiến vào năm 2031.
Về thủ tục thực hiện, trước ngày 1/4 hằng năm, doanh nghiệp phải kê khai số tiền đóng góp trên Hệ thống thông tin EPR quốc gia đối với lượng sản phẩm, bao bì đã đưa ra thị trường trong năm trước đó và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác của thông tin kê khai. Trước ngày 20/4, doanh nghiệp phải hoàn tất việc nộp tiền vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam.
Diệu Hoa