Điểm đáng chú ý, bệnh viện đã áp dụng kỹ thuật sinh thiết đích tuyến tiền liệt qua tầng sinh môn, một hướng tiếp cận hiện đại nhằm nâng cao độ chính xác giải phẫu bệnh và cải thiện mức độ an toàn cho người bệnh, từ đó đưa ra phác đồ điều trị tối ưu hiệu quả.
Diễn biến khởi phát bệnh và vai trò của chẩn đoán hình ảnh trong xác định bệnh lý
Người bệnh T.Đ.T (88 tuổi) nhập viện với các triệu chứng đau ngực, khó thở và ho nhiều, được chẩn đoán tràn khí màng phổi trái và đã dẫn lưu màng phổi 3 ngày trước. Trong quá trình đánh giá tình trạng sức khỏe, siêu âm ổ bụng phát hiện tổn thương nghi ngờ tại tuyến tiền liệt, người bệnh được tiếp tục làm thêm các chẩn đoán chuyên sâu để lấy căn cứ tiến hành điều trị.
Qua kết quả siêu âm ổ bụng, tuyến tiền liệt có nhu mô không đều với vài hình giảm âm dạng khối. Xét nghiệm máu đo tổng lượng kháng nguyên đặc hiệu tuyến tiền liệt, dùng trong tầm soát ung thư tiền liệt tuyến cho thấy mức tăng rất cao, phù hợp với nguy cơ ung thư tiến triển.
Về tình trạng toàn thân khi nhập viện tại Bệnh viện K, người bệnh tỉnh, tiếp xúc tốt, nhưng có các triệu chứng tiểu rắt, buốt, tiểu khó; nhịp thở nhanh bất thường, phản ánh thực tế tổn thương của phổi; phổi trái thông khí kém; không thấy hạch. Những dữ kiện thông qua chẩn đoán hình ảnh cho người bệnh vừa phản ánh tổn thương tại tuyến tiền liệt gây triệu chứng tiết niệu, vừa cho thấy bệnh có thể đã lan rộng, cần xác định bằng giải phẫu bệnh và đánh giá toàn diện.
Hình ảnh chụp cộng hưởng từ chuyên sâu cho thấy các tổn thương của của bệnh nhân
Thực hiện kĩ thuật chụp cộng hưởng từ chuyên sâu cho ung thư tiền liệt tuyến (mpMRI – multiparametric MRI) cho thấy, tuyến tiền liệt kích thước khoảng 49×46×37mm, thể tích tương đương ~43cm³. Tổn thương vùng ngoại vi phía sau lệch trái kích thước 9×12mm, bờ không đều. Tổn thương xâm lấn túi tinh cùng bên, chưa phát hiện xâm lấn cấu trúc lân cận khác.
Từ đó, các bác sĩ đưa ra kết luận phân loại tổn thương PIRADS 5 - mức độ nghi ngờ ung thư rất cao. Ngoài ra, hình ảnh cũng cho thấy có các nốt bất thường tín hiệu rải rác tại xương chậu hai bên và xương cùng, dấy lên khả năng di căn xương. Thoát vị bẹn trái kích thước khoảng 25×15mm gây áp lực ổ bụng, cũng là yếu tố cần được xem xét trong quá trình điều trị.
Chụp cộng hưởng từ đóng vai trò then chốt vì giúp khoanh vùng chính xác "vùng nghi ngờ" cần sinh thiết. Tiếp đó, lựa chọn kĩ thuật sinh thiết tiền liệt tuyến phù hợp là quan trọng đảm bảo hiệu quả, an toàn trong chẩn đoán xác định chính xác bệnh ung thư tiền liệt tuyến
Ứng dụng sinh thiết đích qua tầng sinh môn nâng cao độ chính xác, cải thiện tính an toàn trong chẩn đoán bệnh
Các bác sỹ Bệnh viện K đã áp dụng kỹ thuật sinh thiết đích tuyến tiền liệt qua tầng sinh môn cho người bệnh T.Đ.T.
Kỹ thuật này được bệnh viện triển khai sau khi được chuyển giao từ các chuyên gia hàng đầu châu Âu, bảo đảm bài bản về quy trình, kiểm soát chất lượng và chuẩn hóa kỹ thuật.
Trên thực tế, sinh thiết có thể thực hiện qua nhiều đường khác nhau. Với đặc điểm giải phẫu và nguy cơ nhiễm khuẩn, kỹ thuật sinh thiết đích qua tầng sinh môn được chuyên gia đánh giá là an toàn hơn, đồng thời giảm nguy cơ nhiễm khuẩn so với phương pháp sinh thiết qua đường trực tràng được thực hiện trước đây.
Với người bệnh lớn tuổi, việc tối ưu hóa yếu tố an toàn là đặc biệt quan trọng. Đồng thời, khi bệnh nhân đang có tình trạng hô hấp sau tràn khí màng phổi và cần theo dõi sát, mọi can thiệp y khoa đều cần cân nhắc kỹ lợi ích và nguy cơ. Việc giảm thiểu nguy cơ nhiễm khuẩn và không cần sử dụng kháng sinh sau sinh thiết cũng đem lại lợi ích lớn cho người bệnh, đặc biệt trong bối cảnh người lớn tuổi và tình trạng kháng kháng sinh ngày càng gây ra vấn đề lớn trong điều trị bệnh.
Điểm mấu chốt của "sinh thiết đích" là lấy đúng, đủ mô bệnh cần khảo sát. Ở trường hợp người bệnh này, bác sĩ sử dụng phối hợp các phương tiện hiện đại như: Chụp cộng hưởng từ MRI giúp xác định vùng tổn thương có đặc điểm ác tính rõ ràng; siêu âm đầu dò trực tràng hỗ trợ hướng dẫn can thiệp và lấy mẫu chính xác, tiện lợi.
Nhờ các kĩ thuật hình ảnh chính xác, bác sĩ nhanh chóng xác định được vùng nghi ngờ tổn thương đích, ngay cả với những vùng khó tiếp cận, thực hiện sinh thiết đúng trọng tâm. Khi mẫu mô được lấy đúng, kết quả giải phẫu bệnh thường chính xác hơn, đồng thời giúp giảm thời gian chờ đợi cho chẩn đoán cuối cùng.
Sau khi trải qua quá trình thăm khám, sinh thiết đích qua tầng sinh môn, người bệnh T.Đ.T. được kết luận ung thư biểu mô tuyến của tiền liệt tuyến, gleason 9 điểm, u xâm nhập thần kinh, giai đoạn IV, có tổn thương di căn tại phổi và xương.
Với tình trạng bệnh lan rộng và biểu thị ung thư tuyến tiền liệt cấp độ cao, khả năng phát triển và lan rộng nhanh chóng, bác sĩ chuyên khoa ung bướu đã quyết định chiến lược điều trị theo hướng cá thể hóa và khẩn trương áp dụng liệu pháp nội tiết (liệu pháp ức chế androgen), nhằm kiểm soát sớm sự phát triển của tế bào ung thư tiền liệt tuyến.
Sau khi áp dụng phác đồ điều trị, người bệnh có dấu hiệu đáp ứng thuốc tốt, được theo dõi và đánh giá chuyên sâu cũng như hội chẩn đa chuyên khoa, áp dụng y học chính xác để xây dựng các phác đồ tiếp theo tối ưu với bệnh nhân.
Ý nghĩa của kỹ thuật chẩn đoán mới đối với người bệnh
Trường hợp người bệnh T.Đ.T. cho thấy giá trị của việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh trong chẩn đoán, điều trị ung thư nói chung, ung thư tiền liệt tuyến có ý nghĩa vô cùng quan trọng.
Không chỉ giúp tăng độ chính xác, sinh thiết đích tuyến tiền liệt qua tầng sinh môn còn tác động vào đúng vùng tổn thương trên hình ảnh, giảm rủi ro nhiễm khuẩn, an toàn hơn và đặc biệt phù hợp với người bệnh cao tuổi và có nhiều yếu tố nguy cơ.
Ngoài ra, kỹ thuật này cũng góp phần vào chiến lược chung của Bệnh viện K, ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại, cải tiến hiện quả, nâng cao tính toan toàn cho người bệnh và rút ngắn thời gian để có kết quả chẩn đoán xác định, bắt đầu điều trị kịp thời, hiệu quả cho người bệnh.
Thái Bình/ Ảnh: BVCC