Sơ thẩm vụ án 'lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt 4 thửa đất' tại TP Hồ Chí Minh: Tranh luận tình tiết chưa định giá số tài sản bị chiếm đoạt

Sơ thẩm vụ án 'lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt 4 thửa đất' tại TP Hồ Chí Minh: Tranh luận tình tiết chưa định giá số tài sản bị chiếm đoạt
5 giờ trướcBài gốc
Mâu thuẫn từ việc mua đất dự định xây chung cư
Theo cáo trạng, bị hại trong vụ án là người đàn ông SN 1961 (ngụ phường Hiệp Bình Chánh) đại diện nhóm người là chủ sử dụng 4 thửa đất 263, 264, 265, 267, tờ bản đồ 02 tại phường Phú Hữu, quận 9 (cũ). Bị hại cũng là chủ một doanh nghiệp tư nhân (DNTN).
Ngày 1/6/2010, bị cáo Hoàng và chủ đất ký hợp đồng mua bán 4 thửa đất trên với giá 58 tỷ đồng. Việc trả tiền chia làm 3 đợt, mỗi đợt tương ứng mốc thời gian sau khi hoàn thành tiến độ một số công việc. Bị cáo đã trả bên bán 3 tỷ đồng là tiền đợt 1.
Rắc rối phát sinh khi hai bên thỏa thuận bên bán sẽ chuyển đổi DNTN đứng tên mình thành Cty cổ phần (CTCP) để Hoàng thuận tiện xin giấy phép xây chung cư; đồng thời, hỗ trợ Hoàng thủ tục pháp lý với 2.266m2 đất rạch xung quanh (chưa có sổ đỏ).
Hai bên sau đó ký hàng loạt giấy tờ để hợp thức hóa việc chuyển đổi DNTN thành CTCP. 4 thửa đất được chuyển thành tên CTCP có cơ cấu cổ phần bị hại góp 90 tỷ đồng (tương đương 89,11%), bị cáo 10 tỷ đồng (9,9%)... Sau đó hai bên lại ký các văn bản khác, trong đó “Biên bản cam kết” ghi ngày 18/6/2010 nội dung bị hại nhận đủ 35 tỷ đồng tiền mặt để chuyển nhượng 3,5 triệu cổ phần cho Hoàng; CTCP tăng vốn từ 101 lên 121 tỷ đồng và thay đổi cơ cấu góp vốn Hoàng 65 tỷ đồng (53,72%), bị hại 55 tỷ đồng (45,45%)...
Một điểm mấu chốt trong vụ án này phát sinh từ con số 35 tỷ đồng trong biên bản trên. Bên bán sau đó tố cáo, cho rằng Hoàng “làm giả giấy tờ”. Về phía Hoàng, cho rằng chữ ký bên bán là thật; 35 tỷ đồng gồm 3 tỷ đồng đã trả tiền mua đất đợt 1; và 32 tỷ đồng mua 2.266m2 đất rạch xung quanh chưa có sổ đỏ; bên bán đã nhận đủ và hợp thức hóa bằng cách chuyển nhượng cổ phần. Tuy nhiên, phía bị hại không thừa nhận bán 2.266m2 đất rạch, cho rằng không nhận 32 tỷ đồng, không bán cổ phần. Trong khi đó, cơ quan tố tụng xác định chữ ký của bị hại trong biên bản là thật; nhưng không có việc Hoàng đưa bị hại 32 tỷ đồng tiền mặt.
Cơ quan tố tụng cho rằng bị cáo Hoàng “đã chiếm đoạt của bị hại 4 thửa đất qua việc chuyển đổi DNTN thành CTCP”. Tội phạm hoàn thành tại thời điểm 4 thửa đất sang tên CTCP. Quá trình điều tra, 4 thửa đất được trưng cầu giám định ngày 29/8/2024 nhưng đến nay chưa có kết quả định giá.
Tòa cho rằng “không cần phải chờ kết quả định giá”
Tranh luận diễn ra khi các bên đặt vấn đề vì 4 thửa đất chưa được định giá; và yếu tố giá trị tài sản là bắt buộc phải có trong tội danh chiếm đoạt tài sản để định khung, định tội; thì căn cứ nào để xét xử bị cáo?
Tòa sơ thẩm đã lấy con số 32 tỷ đồng để làm căn cứ xét xử. Bản án 74/2026/HSST đánh giá “trị giá tài sản Hoàng đã chiếm đoạt của bị hại là số tiền 32 tỷ đồng bị hại ký (khống) đã nhận đủ nhưng thực tế là không có nhận”. Bản án cho rằng “không cần phải chờ kết quả định giá từ cơ quan chức năng, kéo dài thời gian giải quyết vụ án không cần thiết”. Vì vậy, HĐXX cho rằng con số 32 tỷ đồng “là định lượng trị giá tài sản bị hại bị chiếm đoạt để xác định trách nhiệm hình sự với bị cáo”.
Tại phiên xử, bị cáo cho rằng mình không có hành vi gian dối để chiếm đoạt 4 thửa đất. Bị cáo nói các thỏa thuận về chuyển đổi từ DNTN đứng tên người bán sang CTCP đều là giả cách nhằm hợp thức hóa việc chuyển nhượng đất; và khi bị cáo đang thực hiện các khâu tiếp theo để trả tiền theo tiến độ; thì bên bán tố cáo nên mọi việc phải dừng lại.
HĐXX nhận định Hoàng có hành vi “nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt” nên tuyên 18 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng đất. Bị hại phải trả lại cho Hoàng 3 tỷ đồng đã nhận.
Bản án sơ thẩm cho rằng “không cần phải chờ kết quả định giá từ cơ quan chức năng”. (Ảnh trong bài: Bùi Yên)
Đánh giá về sự việc, Luật sư (LS) Huỳnh Phước Hiệp (Đoàn LS TP HCM) nhận định, nếu xác định bị cáo lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt 4 thửa đất, thì dạng tội phạm này buộc phải xác định giá trị tài sản chiếm đoạt theo các Điều 215, 216, 217, 218 Bộ luật Tố tụng Hình sự. “Việc bản án sơ thẩm nhận định con số 32 tỷ đồng là giá trị chiếm đoạt là chưa phù hợp. Đặt vấn đề đây chỉ là con số giả cách do hai bên thực hiện giao dịch giả cách, thì việc giả cách “đã giao nhận 32 tỷ đồng” có phạm tội hay không? Còn nếu đây là giao dịch chuyển nhượng cổ phần, thì đó có thể là hành vi trong một vụ án khác về chiếm đoạt cổ phần”, LS Hiệp nói.
Một điều thú vị khác LS Hiệp chỉ ra trong vụ án, là nhận định “tội phạm hoàn thành khi sang tên 4 thửa đất cho Cty”. Tuy nhiên trên thực tế, đến thời điểm hiện tại, dù bị xác định “chiếm đoạt 4 thửa đất” nhưng bị hại vẫn còn nguyên các quyền quyết định với 4 thửa đất này vì 4 thửa đất vẫn đứng tên CTCP đứng tên bị hại và bị hại có quyền thông qua số cổ phần sở hữu.
Được biết sau phiên xử, bị cáo đã kháng cáo Bản án sơ thẩm 74/2026/HSST của TAND TP HCM, mong muốn cấp phúc thẩm xem xét lại vụ án.
LS của bị cáo nêu quan điểm đây là sự việc đã nhiều lần được các cơ quan chức năng vào cuộc xem xét, nên cần có các chứng cứ pháp lý vững chắc để xử lý. Theo hồ sơ, ngày 28/3/2011, Công an quận 4 (cũ) đã ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự với sự việc. Theo đó, “nghi vấn Hoàng tự làm một số giấy tờ để bên bán đất ký vào, nhưng hậu quả chưa xảy ra”. Ngày 11/5/2011, VKSND quận 4 có kết luận kiểm sát điều tra, xác định “việc không khởi tố là có căn cứ”. Hồ sơ sau đó được chuyển đến Công an TP. Ngày 19/7/2013, Công an TP ra quyết định không khởi tố vụ án vì không có căn cứ xác định Hoàng giả mạo chữ ký. Hơn 10 năm sau, ngày 29/1/2024, Công an TP phục hồi điều tra vụ án.
Bùi Yên
Nguồn Pháp Luật VN : https://baophapluat.vn/so-tham-vu-an-lam-dung-tin-nhiem-chiem-doat-4-thua-dat-tai-tp-ho-chi-minh-tranh-luan-tinh-tiet-chua-dinh-gia-so-tai-san-bi-chiem-doat.html