Trong bối cảnh thế giới liên tục những biến động địa chính trị, gián đoạn chuỗi cung ứng và cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, thương hiệu quốc gia không còn là “lớp áo bên ngoài” mà đã trở thành một trụ cột sức mạnh mềm, gắn chặt với năng lực nội tại của nền kinh tế.
Nội lực doanh nghiệp – gốc rễ của thương hiệu bền vững
Sản phẩm của ngành nông nghiệp Việt Nam trưng bày tại triển lãm quốc gia.
“Nếu không có nội lực thì không thể xây dựng được thương hiệu mạnh, dù ở phạm vi nhỏ hay trên thị trường quốc tế”, ông Phan Văn Tâm, Thành viên HĐQT, Phó Tổng Giám đốc Công ty CP Phân bón Bình Điền, chia sẻ từ thực tiễn hơn 50 năm xây dựng và phát triển của doanh nghiệp.
Ngày 20/4 hằng năm, ngày Thương hiệu Việt Nam, là dịp tôn vinh, quảng bá thương hiệu và hình ảnh Việt Nam. Đây là cũng dịp để khơi dậy tinh thần xây dựng thương hiệu trong cộng đồng doanh nghiệp.
Từ thực tế này, ông Phan Văn Tâm cho rằng, trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, “một biến động nhỏ từ bên ngoài cũng có thể tạo ra tác động rất lớn”. Đặc biệt, những biến động gần đây từ khu vực Trung Đông đã ảnh hưởng trực tiếp đến chuỗi cung ứng toàn cầu, nhất là các ngành liên quan đến năng lượng và hóa chất – vốn có mối liên hệ mật thiết với ngành phân bón.
Ông Tâm nhấn mạnh, để tồn tại và phát triển trong môi trường này, doanh nghiệp buộc phải “sống và hòa nhịp với thế giới, thích ứng với thế giới”. Điều đó đòi hỏi sự chuẩn bị bài bản từ tài chính, nguồn nhân lực đến công nghệ. Tại Bình Điền, việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo và xây dựng nền tảng quản trị đã được triển khai từ nhiều năm trước, tạo ra “lớp đệm” vững chắc giúp doanh nghiệp đứng vững trước biến động.
“Chiến sự xảy ra ở Trung Đông ngày 28/2, đến 26/3 chúng tôi mới bắt đầu điều chỉnh giá”, ông Tâm lấy ví dụ khẳng định, doanh nghiệp muốn hỗ trợ người dân, đảm bảo nguồn cung và góp phần bình ổn thị trường thì phải có nội lực.
Có chung quan điểm, bà Tạ Hoàng Lan, Phó Trưởng phòng Phát triển năng lực xúc tiến thương mại, Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương), nhấn mạnh: “Nội lực chính là yếu tố quyết định, là nền tảng để phát triển thương hiệu bền vững”. Theo bà, nội lực không chỉ nằm ở chất lượng sản phẩm mà còn phải gắn với tiêu chuẩn quốc tế, trách nhiệm xã hội, đổi mới công nghệ và sáng tạo.
Bà Lan chỉ ra một hạn chế phổ biến hiện nay, đó là nhiều doanh nghiệp vẫn coi xây dựng thương hiệu là chi phí thay vì một khoản đầu tư dài hạn. “Nếu chỉ tập trung bán hàng mà không đầu tư vào thương hiệu, doanh nghiệp sẽ không thể tạo được niềm tin với khách hàng và đối tác quốc tế”, bà nói.
Theo chuyên gia, các chương trình xúc tiến thương mại của Nhà nước, bao gồm chương trình Thương hiệu quốc gia, chỉ là “bệ phóng” hay “tấm hộ chiếu”. Việc doanh nghiệp có thể “thông hành” hay không lại phụ thuộc hoàn toàn vào năng lực thực chất. Nếu nội lực yếu, mọi chiến dịch quảng bá chỉ mang tính tình thế và không tạo ra giá trị lâu dài.
Từ sức mạnh doanh nghiệp đến chiến lược quốc gia
Theo ông Hoàng Minh Chiến, Phó Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại, Phó trưởng Ban Thư ký chương trình Thương hiệu quốc gia Việt Nam, dù thời gian qua, thương hiệu quốc gia có sự tăng trưởng tích cực, nhưng “chất lượng và độ lớn mạnh nội tại của doanh nghiệp chưa được như kỳ vọng”.
Theo ông Chiến, Việt Nam hiện “mạnh về bề rộng nhưng thiếu chiều sâu cốt lõi trong chuỗi giá trị”. Nền kinh tế vẫn chủ yếu tham gia ở phân khúc thấp, với mô hình gia công (OEM) chiếm ưu thế, trong khi năng lực thiết kế (ODM) và xây dựng thương hiệu riêng (OBM) còn hạn chế.
Đồng tình với nhận định này, ông Đinh Hồng Kỳ, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Secoin, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp TP.HCM chỉ ra, tăng trưởng GDP, tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam rất lớn nhưng giá trị gia tăng trong sản phẩm còn rất khiêm tốn.
“Chúng ta xuất khẩu chủ yếu là gia công, OEM cho các sản phẩm của thương hiệu của nước ngoài. Thống kê năm 2025 cho thấy, có đến 77% sản lượng xuất khẩu đến từ các doanh nghiệp FDI. Các doanh nghiệp Việt thì ngoài liên quan đến nông nghiệp, dệt may, da giày thì vẫn là sản phẩm giá trị gia tăng thấp”, ông nói.
Điều này dẫn đến một thực tế là thương hiệu quốc gia Việt Nam “chưa tương xứng với năng lực sản xuất thực sự”, ông Kỳ nói thêm.
Các chuyên gia cho rằng, việc xây dựng thương hiệu quốc gia cần sự kết hợp từ hai phía: năng lực nội tại của doanh nghiệp và vai trò định hướng, tạo hệ sinh thái của Nhà nước. Doanh nghiệp phải nâng cao chất lượng và đổi mới sáng tạo, còn Nhà nước cần tạo môi trường thuận lợi và động lực phát triển.
Theo ông Vũ Bá Phú, Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại, đã đến lúc nâng tầm chương trình Thương hiệu quốc gia thành một chiến lược về thương hiệu. “Không chỉ là một chương trình xúc tiến thương mại, mà phải là chiến lược dài hạn, trong đó doanh nghiệp là trung tâm”, Cục trưởng nhấn mạnh.
Bộ Công Thương đang xây dựng chiến lược trong giai đoạn 2026 - 2035 và tầm nhìn 2045, dự kiến trình Chính phủ trong năm 2026.
Song song với đó, chương trình Vươn ra thị trường quốc tế “Go Global” giai đoạn 2026 - 2030 cũng được triển khai với mục tiêu đào tạo 10.000 doanh nghiệp, tư vấn quốc tế hóa cho 1.000 doanh nghiệp và hỗ trợ ít nhất 100 doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài. Điểm mới là Nhà nước sẽ chuyển từ vai trò hỗ trợ thông tin sang đồng hành và chia sẻ rủi ro với doanh nghiệp.
Thương hiệu quốc gia sẽ hưởng lợi từ nền tảng thể chế ổn định và chính sách xuyên suốt, đặc biệt khi quá trình quốc tế hóa của doanh nghiệp và định vị quốc gia được triển khai song hành. Đối với Việt Nam, điều này gợi mở lộ trình từng bước xây dựng một khuôn khổ thương hiệu quốc gia theo hướng “toàn Chính phủ”, nhằm tăng cường phối hợp giữa các bộ, ngành, đồng thời bảo đảm sự gắn kết giữa chương trình Thương hiệu quốc gia và chương trình Vươn ra thị trường quốc tế như các công cụ chính sách song hành.
TS Đặng Thảo Quyên Đại học RMIT Việt Nam
Nhiều giá trị văn hóa đang bị xem là bình thường trong nước nhưng lại là “điểm khác biệt đắt giá” trên thị trường quốc tế. Nếu biết khai thác, văn hóa có thể trở thành lợi thế cạnh tranh dài hạn của thương hiệu Việt, tương tự cách Hàn Quốc đã làm với làn sóng K-pop. Tuy nhiên, để hệ sinh thái thương hiệu quốc gia vận hành hiệu quả, cần có vai trò dẫn dắt mạnh mẽ của Nhà nước. Không chỉ dừng ở xúc tiến thương mại, mà cần xây dựng cơ sở dữ liệu văn hóa, tiêu chuẩn thương hiệu ngành và cơ chế bảo vệ sở hữu trí tuệ.
Ông Lại Tiến Mạnh Chuyên gia chiến lược thương hiệu:
Trong điều kiện hiện nay, doanh nghiệp Việt Nam trước hết phải tập trung nâng cao năng lực cạnh tranh của mình. Điều này không chỉ dừng ở việc cải tiến quản trị hay tiết giảm chi phí, mà còn phải gắn chặt với việc ứng dụng khoa học công nghệ, tận dụng các thành tựu của kinh tế số và chủ động phát triển những mặt hàng mới có khả năng cạnh tranh trong bối cảnh thị trường thế giới biến động mạnh. Nếu chỉ dựa vào mô hình cũ, sản phẩm cũ và cách làm cũ, doanh nghiệp sẽ rất dễ bị tổn thương khi có cú sốc xảy ra.
TS. Lê Đăng Doanh Nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương
Đỗ Kiều