'Song mã kỳ tài' lời chúc Xuân của khí phách và hồn thép

'Song mã kỳ tài' lời chúc Xuân của khí phách và hồn thép
2 giờ trướcBài gốc
Ấm trà đầu năm: Thưởng ngoạn khí phách thiên lý mã của Từ Bi Hồng
Ngụm trà đầu tiên luôn mang vị chát dịu, như sự trầm lắng, cô đọng của năm cũ, trước khi mở ra hương vị thanh thoát của năm mới. Cảm giác ấy thật tương đồng khi ta chiêm ngưỡng những tác phẩm thủy mặc ngựa của danh họa Từ Bi Hồng (Xu Beihong, 1895 - 1953).
“Ngựa Phi Nước Đại” của Từ Bi Hồng
Từ Bi Hồng sinh ra và lớn lên trong một gia đình nghệ thuật tại tỉnh Giang Tô, ông rất sớm bộc lộ tài năng. Từ năm 6 tuổi, ông đã được cha truyền dạy về thư pháp và kỹ thuật vẽ thủy mặc. Năm 1915, ông tới Thượng Hải học và gặp gỡ học giả, nhà cải cách Khang Hữu Vi (1858 - 1927), người đã trở thành "sư phụ" và ảnh hưởng sâu sắc đến quan điểm nghệ thuật của ông. Khang Hữu Vi đã gieo vào tâm trí Từ Bi Hồng ý niệm phải dung hòa các tư tưởng và thực tế của phương Tây vào nghệ thuật Trung Hoa. Giáo sư Huang Xiaoming nhận định: "Từ Bi Hồng nhận thấy nghệ thuật truyền thống Trung Hoa đã trở nên đơn thuần chỉ là sự sao chép, xa rời thiên nhiên và hiện thực xã hội. Ông đã sử dụng chính xác những tỷ lệ kết cấu và dung hòa các cách tiếp cận của phương Tây, như thuật phối cảnh, trong tranh của mình". Với việc tiếp thu có cân nhắc các truyền thống hội họa phương Tây, Từ Bi Hồng đã đưa chủ nghĩa Hiện thực vào mỹ thuật Trung Hoa, đóng vai trò quan trọng trong quá trình chấn hưng nền mỹ thuật hiện đại.
Tranh ngựa của Từ Bi Hồng nổi tiếng bởi sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa bút pháp thư họa (Shūhùa) truyền thống và giải phẫu học (Anatomy) chính xác của châu Âu. Ông được coi là người đưa hội họa Trung Quốc giao thoa với kỹ thuật phương Tây.
Kỹ thuật làm nên danh tiếng của ông là "Nhất khí thành" (Vẽ một hơi mà thành), tức là vẽ nhanh, dứt khoát, sử dụng thủy mặc đơn giản (mực đen trên giấy trắng). Mỗi nét cọ đều là sự dồn nén của nội lực và tốc độ. Nét cọ tạo ra bờm và đuôi ngựa bay lượn trong gió, mang đến cảm giác "vô ảnh vô hình" nhưng lại tràn đầy sức sống.
Bức “Bát Tuấn Đồ” (Tám Ngựa Thần) của Từ Bi Hồng
Khi chiêm ngưỡng những tác phẩm như "Bát tuấn đồ" hay "Ngựa phi nước đại", ta như nghe được tiếng vó ngựa dồn dập, cảm nhận được hơi gió lướt qua mặt. Đó là khí phách hùng vĩ, là tinh thần không thể bị khuất phục.
Ngựa trong tranh Từ Bi Hồng không chỉ là con vật mà là biểu tượng của tinh thần dân tộc, sự trỗi dậy và tốc độ tiến lên của một đất nước đang tìm đường thoát khỏi hỗn loạn thập niên 1930. Hình tượng thiên lý mã của ông mang ý nghĩa về nhân tài và sự nghiệp lẫy lừng. Nó là lời hiệu triệu tinh thần, gieo vào lòng người xem niềm tin mãnh liệt vào tương lai rạng rỡ, một khát vọng "Mã đáo thành công" đúng nghĩa, vĩ đại và phi thường.
Hương vị thanh cao: Thưởng ngoạn hồn thép ngựa chiến của Lê Trí Dũng
Tiếp tục ngụm trà thứ hai, hương vị đã lan tỏa, thấm đẫm sự tinh tế. Ta chuyển sang chiêm ngưỡng tranh ngựa của danh họa Lê Trí Dũng (1949 - 2021), để cảm nhận sự đối lập đầy thú vị về hình khối và chất liệu.
Màu nước trên giấy xuyến chỉ (1989)
Họa sĩ Lê Trí Dũng sinh ra trong một gia đình có truyền thống nghệ thuật, là con của họa sĩ sơn mài nổi tiếng Lê Quốc Lộc. Tuy nhiên, người ảnh hưởng sâu sắc đến bút pháp của ông lại là danh họa Nguyễn Tư Nghiêm, hàng xóm sát nhà, người hay vẽ các con giáp. Có lẽ vì thế mà sau này Lê Trí Dũng chuyên vẽ tranh 12 con giáp, đặc biệt là hàng ngàn bức tranh ngựa nổi tiếng. Cơ duyên đặc biệt đến với ông khi ông vẽ bức "Quân doanh Từ Công". Một vị khách người Mỹ thay vì yêu thích nhân vật Từ Hải và Thúy Kiều, lại đặc biệt thích con ngựa làm nền ở phía sau. Vị khách cho biết: "Nó phiêu linh mờ ảo và mang cốt cách bản sắc Việt rất rõ. Tôi cũng đã từng xem tranh ngựa ở nhiều nước trên thế giới, nhưng con ngựa trong bức tranh này không giống bất cứ tranh ngựa nào vẽ ở đâu cả!”. Từ đó, Lê Trí Dũng chuyên tâm vẽ ngựa, hối hả trên nhiều chất liệu: Sơn mài, sơn dầu trên toan, giấy dó, giấy xuyến chỉ, thậm chí cả trên bìa các tông. Theo người sưu tầm tranh ngựa Trương Nhuận, ngựa của Lê Trí Dũng rất riêng và rất có "thần", có chiều sâu, mang cốt cách của con người. Ngựa của ông gắn với bối cảnh Việt như mùa sen, hoa đào, mảnh trăng đầy hay khuyết, khiến mỗi con ngựa đều đa dạng, không con nào giống con nào.
Nếu Từ Bi Hồng lấy sự giản lược tối đa của thủy mặc làm chủ đạo, thì Lê Trí Dũng lại dùng sự giàu có của chất liệu sơn mài và sơn dầu để khắc họa hình tượng ngựa. Ông nổi tiếng với phong cách hiện đại, cô đọng hình khối.
Ngựa của Lê Trí Dũng được vẽ bằng những mảng màu mạnh, thường là những cặp màu tương phản (đỏ - đen, vàng - xanh), tạo nên cảm giác ngựa như được đúc bằng sắt thép, rắn rỏi, đầy nội lực và bền bỉ. Ông đã đưa yếu tố điêu khắc vào hội họa, tạo nên những tác phẩm có chiều sâu.
Màu nước trên giấy
Khác với sự phóng khoáng, phi nước đại của Bi Hồng, ngựa của Trí Dũng thường đứng sững, đôi mắt sâu thẳm, mang vẻ trầm tư. Chúng gợi lên hình ảnh ngựa chiến trên đường Trường Sơn, ngựa thồ hàng trên cao nguyên đá, mang trong mình tính khắc khổ, kiên cường của con người Việt Nam qua hai cuộc kháng chiến.
Ngựa trong tranh Lê Trí Dũng không phải là biểu tượng của sự thăng hoa, mà là đại diện cho bản ngã cá nhân và sức mạnh tiềm ẩn được nén chặt bên trong. Ông đã biến chất liệu Sơn Mài - vốn thanh tao, cổ điển - trở nên hiện đại và góc cạnh, thể hiện tinh thần không ngừng đổi mới, không chịu khuất phục trước lối mòn. Đây chính là vẻ đẹp của sự thật, của bản lĩnh Việt được tôi luyện qua lửa và thép.
Đối chiếu song mã: Khí và chất
Ngụm trà cuối cùng, vị ngọt hậu đọng lại, là lúc ta chiêm nghiệm sự khác biệt và điểm chung giữa hai danh họa lừng lẫy này. Sự đối chiếu này không chỉ là kỹ thuật mà còn là tinh thần của hai dân tộc, hai thời đại.
Cả hai danh họa đều đạt đến đỉnh cao bằng con đường riêng. Từ Bi Hồng dùng sự "vô hình" (nét mực loang nhanh) để vẽ nên "hữu hình" của sức mạnh bùng nổ, hướng ngoại. Lê Trí Dũng dùng "hữu hình" (chất liệu sơn mài góc cạnh) để truyền tải "vô hình" của nội tâm nén chặt, kiên định.
Họ đã tạo ra hai trường phái ngựa hoàn toàn khác biệt nhưng đều khiến người xem phải trầm trồ thán phục, khẳng định giá trị trường tồn của nghệ thuật
Xuân Bính Ngọ 2026 về, chiêm ngưỡng “Khí phách hùng mã” của Từ Bi Hồng, ta thấy lòng mình như được tiếp thêm ý chí vươn lên mãnh liệt, không chùn bước. Ngắm nhìn “Hồn thép ngựa chiến” của Lê Trí Dũng, ta lại thấy sự nhắc nhở về lòng kiên định, về bản lĩnh cá nhân cần phải giữ gìn.
Hội họa, tựa như một ấm trà Xuân, càng ngâm lâu càng thấm đượm. Xin chúc quý độc giả một năm mới Uy Mãnh như Ngựa Phi và Bền Bỉ như Ngựa Thép. Chúc tất cả đón chào Bính Ngọ với tâm thế vững vàng, gặt hái nhiều thành công rực rỡ.
HUỲNH ĐỨC KHAI NINH
Nguồn CA TP.HCM : http://congan.com.vn/van-hoa-giai-tri/song-ma-ky-tai-loi-chuc-xuan-cua-khi-phach-va-hon-thep_189120.html