Cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Sơn Vĩ tuyên truyền, giới thiệu về đường biên, cột mốc cho thế hệ trẻ.
Đường biên nơi cực Bắc
Ở cực Bắc Tổ quốc, Tuyên Quang là một trong những địa bàn then chốt của tiến trình phân giới, cắm mốc trên tuyến biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc. Gần 277 km đường biên chạy qua địa hình núi đá tai mèo hiểm trở, vùng núi đất cát pha thường xuyên sạt lở do mưa lũ đã tạo nên một trong những đoạn biên giới phức tạp bậc nhất toàn tuyến. Tại đây, đường biên không chỉ hiện diện trên bản đồ mà len lỏi theo từng sống núi, khe suối, triền đá dựng đứng.
Ông Triệu Đức Thanh, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang cho biết, trên tổng thể hơn 1.400 km đường biên Việt - Trung, tuyến biên giới Hà Giang hội tụ đầy đủ những khó khăn điển hình về địa hình, khí hậu và lịch sử quản lý lãnh thổ. Vì vậy, PGCM không đơn thuần là công việc kỹ thuật, mà là một hành trình dài, đòi hỏi sự chính xác tuyệt đối, tính kiên trì và sự phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng hai bên.
Ngày 26/7/2002, tại khu vực cửa khẩu Thanh Thủy, cột mốc số 261 được dựng lên. Giữa không gian tĩnh lặng của núi rừng, cột mốc đầu tiên hiện ra không ồn ào, nhưng lại mở ra một chặng đường dài phía trước. Từ đây, đường biên không còn là những nét vẽ trên bản đồ, mà bắt đầu hiện hữu rõ ràng trên thực địa. Theo ông Triệu Quyết Long, Trưởng nhóm PGCM khu vực Mèo Vạc cho biết: “Việt Nam cắm mốc số chẵn, phía Trung Quốc cắm mốc số lẻ. Có những vị trí thì hai bên cùng dựng mốc đôi. Nhưng quan trọng nhất là mọi thông số phải thống nhất tuyệt đối, không được sai lệch dù chỉ một centimet.”
Nguyên tắc chung đó đã thành “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt, bảo đảm cho từng cột mốc được dựng lên không chỉ đúng tọa độ mà còn đúng tinh thần của một đường biên giới hòa bình, ổn định và lâu dài. Đại tá Hoàng Đình Xuất, nguyên Chỉ huy trưởng Bộ đội Biên phòng tỉnh chia sẻ: Việc bảo vệ biên giới không chỉ là nhiệm vụ trước mắt mà còn là kế sách lâu dài để giữ vững sự ổn định và phát triển của đất nước. Vì vậy, mỗi cột mốc được dựng lên phải trải qua nhiều bước chặt chẽ, đòi hỏi sự phối hợp cẩn trọng, chính xác tuyệt đối giữa lực lượng hai chuyên trách giữa hai nước.
Vượt qua gian nan, thử thách
Nếu trên bản đồ, đường biên chỉ là những nét vẽ mảnh, thì ngoài thực địa đó là những hành trình bám đá, bám núi giữa điều kiện khắc nghiệt. Địa hình trở thành “phép thử” lớn nhất đối với công tác PGCM. Những dãy núi đá tai mèo dựng đứng, bị chia cắt bởi khe sâu, vực thẳm; nhiều vị trí hoàn toàn không có lối đi, buộc các tổ công tác phải tự mở đường tiếp cận điểm mốc đã được định vị.
Ông Trần Anh Tuấn, Phó nhóm PGCM số 6 và 7 khu vực Mèo Vạc (cũ), nhớ lại những ngày bám núi giữa thời tiết khắc nghiệt nơi biên giới: “Mùa hè, đá núi nóng hầm hập, hơi nóng hắt ngược lên rát bỏng mặt. Mùa đông thì rét buốt, sương mù dày đặc phủ kín, nhiều khi không nhìn rõ lối đi. Đỉnh điểm là đợt rét đậm năm 2008, sương mù dày đến mức mất phương hướng, áo bông ướt sũng vì hơi nước, nặng trĩu trên vai, còn bi-đông nước mang theo cũng đông cứng, không thể sử dụng”.
Thời điểm đó chưa có đường vành đai biên giới, việc đi lại chủ yếu dựa vào các tuyến tuần tra và những lối mòn do người dân cùng bộ đội tự mở giữa núi rừng. Những ngày mưa lớn hoặc sương mù dày đặc, đường đất đá trơn trượt, việc tiếp cận các điểm mốc càng trở nên vất vả, có khi phải dò từng bước giữa dốc cao, vực sâu. Ông Hà Đình Kiến, Trưởng nhóm phân giới cắm mốc số 6 nhớ lại: “Không chỉ gian khổ trong di chuyển, việc đưa vật liệu lên núi còn là một thử thách rất lớn. Xi măng, sắt thép, đá đều phải chia nhỏ, gùi thủ công qua từng triền núi dốc đứng. Trong những thời điểm khó khăn, bà con vùng biên cũng trực tiếp hỗ trợ, cùng bộ đội và lực lượng kỹ thuật vận chuyển qua những đoạn đường hiểm trở. Mỗi bao vật liệu là sức người vượt dốc, băng rừng suốt hàng chục cây số”.
Không chỉ địa hình hiểm trở và thời tiết khắc nghiệt, công việc còn luôn tiềm ẩn nguy hiểm từ bom mìn sót lại sau chiến tranh. Bà Nguyễn Kim Tuyến, nguyên cán bộ Sở Xây dựng, người phụ nữ duy nhất trực tiếp tham gia khảo sát thực địa trên tuyến biên giới thời điểm đó, đến nay vẫn chưa thể quên những ký ức ám ảnh. Bà kể, tại khu vực cột mốc 408, trong một lần tạm dừng nghỉ trên mỏm đá, lực lượng khảo sát bất ngờ phát hiện dưới lớp đất chỉ dày chừng một gang tay có tới bốn quả mìn còn sót lại. Phát hiện đó là lời cảnh báo khiến cả đoàn phải cảnh giác, đề phòng rủi ro trong suốt quá trình làm nhiệm vụ.
Theo ông Phạm Trung Hiếu, nguyên Đội trưởng đội công binh Bộ đội Biên phòng Hà Giang, bom mìn còn sót lại ở khu vực này rất đa dạng về chủng loại, phân tán ở nhiều vị trí như mỏm núi, hốc đá, bị che lấp bởi đất đá và lớp thực bì dày qua thời gian. Trong điều kiện địa hình hiểm trở, thời tiết khắc nghiệt, từng bước rà phá đều phải tiến hành hết sức thận trọng, mở lối an toàn cho các tổ công tác tiếp cận hiện trường.
Dấu mốc giữa đại ngàn biên cương
Năm 2009, Việt Nam và Trung Quốc hoàn thành toàn bộ công tác PGCM trên đất liền, khép lại một tiến trình đàm phán và triển khai kéo dài nhiều năm. Trên tuyến biên giới qua địa bàn tỉnh, hệ thống 442 cột mốc được xác lập, gồm 358 mốc chính và 84 mốc phụ, trải dọc qua 277 km đường biên, bám theo sườn núi, đường chia nước và những khe suối tự nhiên. Từ đây, đường biên giới không còn là khái niệm trên bản đồ, mà được định hình bằng một hệ thống mốc giới cụ thể, thống nhất và có giá trị pháp lý lâu dài.
Ở góc độ trực tiếp thực thi, ông Triệu Quyết Long cho rằng giá trị lớn nhất của hệ thống 442 cột mốc nằm ở tính chính xác và sự đồng bộ. Mỗi cột mốc không chỉ là điểm đánh dấu ranh giới, mà là kết quả của quá trình khảo sát, đối chiếu thực địa và hồ sơ pháp lý một cách chặt chẽ, nhiều lần kiểm tra trước khi xác lập cuối cùng. Theo ông, chính sự cẩn trọng ấy đã tạo nên một đường biên ổn định, hạn chế tối đa những khoảng trống pháp lý.
Ngày 14/7/2010, tại Cửa khẩu quốc tế Thanh Thủy, ba văn kiện pháp lý về biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc chính thức có hiệu lực. Sự kiện này đánh dấu bước hoàn tất toàn diện tiến trình phân giới, cắm mốc, lần đầu tiên trong lịch sử hai nước xác lập một đường biên giới rõ ràng, hiện đại, chấm dứt những tồn tại kéo dài nhiều thập kỷ.
Ông Triệu Đức Thanh nhìn nhận đây là dấu mốc đặc biệt quan trọng, không chỉ ở giá trị pháp lý mà còn ở tầm nhìn chiến lược phát triển lâu dài. Ông cho rằng, khi đường biên được xác định rõ ràng, không gian biên giới sẽ trở nên ổn định hơn, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý an ninh, đồng thời mở rộng giao thương và thúc đẩy kinh tế biên mậu.
Từ những triền núi đá xám nơi cực Bắc Tổ quốc, hệ thống cột mốc quốc giới dần hiện hình, lặng lẽ nhưng vững chãi. Không chỉ khẳng định chủ quyền quốc gia bằng những dấu mốc cụ thể, đó còn là kết quả của một tiến trình ngoại giao, sức lao động bền bỉ, góp phần “tạc” nên hình hài Tổ quốc nơi biên cương.
Hồng Hà