Tái hoang dã không chỉ là mở cửa lồng, thả động vật về rừng

Tái hoang dã không chỉ là mở cửa lồng, thả động vật về rừng
4 giờ trướcBài gốc
Tái hoang dã không đơn giản là đưa động vật ra khỏi lồng nhốt
Ngày 14-15/5, Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm tổ chức cuộc họp khởi động dự án "Xây dựng Kế hoạch Tái hoang dã Việt Nam giai đoạn 2027 - 2035, tầm nhìn năm 2050" với sự đồng hành của Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) và Tổ chức Re:wild.
Việt Nam đang hướng tới xây dựng khung chính sách quốc gia trong công tác tái hoang dã, phục hồi hệ sinh thái tự nhiên và quần thể của các loài động vật hoang dã, trong đó có các loài nguy cấp, quý hiếm. Cuộc họp khởi động nhằm giới thiệu, lấy ý kiến đóng góp, xác định ưu tiên cho khung Kế hoạch Tái hoang dã Việt Nam.
Việt Nam đang hướng tới xây dựng khung chính sách quốc gia trong công tác tái hoang dã, phục hồi hệ sinh thái tự nhiên và quần thể của các loài động vật hoang dã.
Ông Đoàn Hoài Nam, Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm khẳng định: "Tái hoang dã trở thành yêu cầu cấp bách, là hướng tiếp cận khoa học và toàn diện, không chỉ bảo tồn từng loài riêng lẻ mà còn phục hồi toàn bộ chức năng và cấu trúc của hệ sinh thái".
Xây dựng Kế hoạch Tái hoang dã giai đoạn 2027-2035, tầm nhìn 2050 là định hướng phù hợp với chủ trương của Chính phủ về phát triển bền vững và các cam kết quốc tế của Việt Nam, đặc biệt là đóng góp cho Mục tiêu 30x30 trong Khung đa dạng sinh học toàn cầu Kunming-Montreal.
"Kế hoạch này cũng được xây dựng dựa trên thực tế đa dạng sinh học tại Việt Nam khi diện tích, chất lượng các hệ sinh thái tự nhiên đang bị suy giảm mạnh, cân bằng tự nhiên đang dần mất đi do đứt gãy chuỗi và lưới thức ăn, cũng như nhận thức về vai trò của tái hoang dã chưa đầy đủ", ông Nam chia sẻ.
Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm xác định rõ kế hoạch này không phải là sản phẩm của một cơ quan, đơn vị, mà phải là kết quả của sự đồng thuận, của trí tuệ tập thể và của sự cam kết chung từ cộng đồng khoa học, cộng đồng bảo tồn, các trường đại học, các vườn quốc gia, khu bảo tồn và các tổ chức đối tác quốc tế.
Ông Nguyễn Văn Chính - Giám đốc Vườn Quốc gia Cúc Phương cho biết, trong nhiều năm qua, thành công của công tác bảo tồn thường được đo bằng số lượng cá thể động vật hoang dã được cứu hộ và tái thả về tự nhiên. Tuy nhiên, cách tiếp cận này chưa phản ánh đầy đủ bản chất của tái hoang dã. Tái hoang dã đúng nghĩa phải là quá trình khôi phục khả năng tự vận hành của tự nhiên, nơi các loài có thể sinh tồn, sinh sản và duy trì các tương tác sinh thái một cách ổn định, lâu dài.
Việt Nam thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận trong cứu hộ, phục hồi và tái thả động vật hoang dã, với sự tham gia của các vườn quốc gia, trung tâm cứu hộ và các tổ chức bảo tồn trong và ngoài nước. Nhiều loài quý hiếm đã được đưa trở lại môi trường tự nhiên; nhận thức xã hội về bảo tồn cũng dần được nâng cao.
Việc mở cửa lồng không phải là điểm kết thúc. Một cá thể trở lại rừng chưa đồng nghĩa với hệ sinh thái đã được phục hồi. Tái hoang dã đúng nghĩa phải là quá trình khôi phục khả năng tự vận hành của tự nhiên, nơi các loài có thể sinh tồn, sinh sản và duy trì các tương tác sinh thái một cách ổn định, lâu dài.
Việt Nam thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận trong cứu hộ, phục hồi và tái thả động vật hoang dã, với sự tham gia của các vườn quốc gia, trung tâm cứu hộ và các tổ chức bảo tồn trong và ngoài nước. Nhiều loài quý hiếm đã được đưa trở lại môi trường tự nhiên; nhận thức xã hội về bảo tồn cũng dần được nâng cao.
Thực tế cho thấy, tại những khu vực bảo vệ rừng tốt, dữ liệu từ bẫy ảnh và khảo sát đều ghi nhận sự gia tăng cả về số lượng cá thể lẫn đa dạng loài. Đồng thời, các hoạt động tái thả cũng góp phần lan tỏa nhận thức tích cực đến cộng đồng địa phương.
Tuy vậy, phần lớn các hoạt động hiện nay mới dừng ở khâu "trả cá thể về rừng", trong khi các điều kiện nền tảng để đảm bảo sự tồn tại lâu dài của các loài vẫn chưa được giải quyết đồng bộ.
Chương trình nhân giống nuôi nhốt cấp quốc gia các loài hoang dã quý hiếm
Tại Vườn Quốc gia Cúc Phương, ông Chính cho biết đơn vị đang từng bước tiếp cận tái hoang dã như một quy trình sinh thái liên hoàn, với phương châm "thiên nhiên dẫn dắt, con người hỗ trợ".
Việc lựa chọn loài được cân nhắc kỹ lưỡng dựa trên vai trò sinh thái, khả năng thích nghi và điều kiện sinh cảnh. Trước khi tái thả, các cá thể phải trải qua quá trình phục hồi hành vi tự nhiên, giảm phụ thuộc vào con người. Sau tái thả, hoạt động theo dõi tiếp tục được triển khai nhằm đánh giá khả năng hòa nhập và sinh tồn.
Đáng chú ý, công tác tái hoang dã được gắn chặt với giáo dục môi trường và sự tham gia của cộng đồng. Theo ông, một cá thể chỉ thực sự an toàn khi cộng đồng địa phương coi việc bảo vệ nó là trách nhiệm tự nhiên của mình, từ đó hình thành "lá chắn mềm" bền vững.
Dẫn chứng kinh nghiệm quốc tế, ông Chính nhắc tới việc tái thả sói xám tại Yellowstone National Park, giúp phục hồi cấu trúc và cân bằng của toàn hệ sinh thái, hay mô hình tại Khao Yai National Park với cách tiếp cận liên ngành và gắn kết sinh cảnh. Theo ông, điểm chung của các mô hình thành công là sự kết hợp giữa sinh thái học, quản trị và sự tham gia của cộng đồng, thay vì chỉ tập trung vào yếu tố sinh học.
Ông Jake Brunner, Giám đốc IUCN vùng hạ lưu sông Mekong, tái hoang dã cần được triển khai dựa trên ba trụ cột cốt lõi và đòi hỏi sự thay đổi trong cách quản lý, giám sát của các khu bảo tồn. Theo đó, tái hoang dã cần được định vị như một đóng góp quan trọng cho các mục tiêu phát triển, bao gồm sức khỏe cộng đồng.
Ông Jake đề xuất xây dựng hệ thống đánh giá trong chu kỳ 5 năm đối với quần thể động vật và tình trạng hệ sinh thái. Trong đó, cần thể chế hóa việc sử dụng bẫy ảnh có hệ thống tại các trung tâm nghiên cứu, trường đại học, đồng thời khai thác dữ liệu để đánh giá hiệu quả quản lý các khu bảo tồn.
Cần thúc đẩy tái hoang dã thông qua đẩy nhanh việc tái thả động vật từ các trung tâm cứu hộ trở lại tự nhiên tại các khu bảo tồn phù hợp. Ông Jake cũng cho rằng, Việt Nam cần sớm thiết lập chương trình nhân giống nuôi nhốt cấp quốc gia và xây dựng quy trình tái thả động vật hoang dã theo quy định, bảo đảm tính khoa học.
Khoảng 75% các bệnh truyền nhiễm mới nổi có nguồn gốc từ động vật, trong đó gần 70% xuất phát từ động vật hoang dã. Các nghiên cứu cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa nguy cơ bùng phát dịch bệnh với tình trạng phá rừng, thâm canh nông nghiệp và suy giảm đa dạng sinh học, khi những sức ép làm gia tăng tiếp xúc giữa con người với động vật hoang dã mang mầm bệnh.
Tô Hội
Nguồn SK&ĐS : https://suckhoedoisong.vn/tai-hoang-da-khong-chi-la-mo-cua-long-tha-dong-vat-ve-rung-169260514175156427.htm