Tổng biên tập Báo Đại biểu nhân dân Phạm Thị Thanh Huyền và các đại biểu tham dự diễn đàn
Phát biểu khai mạc, Tổng biên tập Báo Đại biểu Nhân dân Phạm Thị Thanh Huyền nhấn mạnh, trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cao hơn về chất lượng tăng trưởng, năng lực cạnh tranh và tính tự chủ của nền kinh tế, việc nhận diện đúng các “điểm nghẽn” về thể chế, chính sách và tổ chức thực thi là điều kiện tiên quyết để hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược.
Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã xác định hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển là một đột phá chiến lược nhằm khơi thông nguồn lực. Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị cũng nhấn mạnh yêu cầu đổi mới mạnh mẽ công tác xây dựng và thi hành pháp luật, bảo đảm tính đồng bộ, khả thi, ổn định và có thể dự báo của chính sách. Đây là những nền tảng quan trọng để tổ chức Diễn đàn.
Tổng biên tập Báo Đại biểu nhân dân Phạm Thị Thanh Huyền phát biểu
"Diễn đàn không chỉ là nơi trao đổi học thuật, mà quan trọng hơn là không gian chính sách, nơi kết nối giữa tư duy lập pháp, thực tiễn quản lý và nhu cầu từ đời sống, để từ đó hình thành những kiến nghị có giá trị, có thể “đi vào” quá trình hoạch định và hoàn thiện chính sách".
Trên tinh thần đó, Tổng Biên tập Phạm Thị Thanh Huyền đề nghị Diễn đàn tập trung thảo luận một số nội dung trọng tâm.
Trước hết là nhận diện đúng bối cảnh và yêu cầu phát triển mới, đặc biệt là những thay đổi mang tính cấu trúc của nền kinh tế trong kỷ nguyên số, kinh tế xanh và kinh tế tri thức, từ đó làm rõ các vấn đề đặt ra đối với hệ thống chính sách hiện hành về tăng trưởng xanh.
Đồng thời, cần đánh giá thực trạng một cách thẳng thắn, không chỉ dừng ở kết quả đạt được mà đi sâu phân tích những hạn chế, bất cập, nhất là các “điểm nghẽn” về thể chế, cơ chế phối hợp, cũng như phân bổ và sử dụng nguồn lực để thúc đẩy tăng trưởng xanh.
Cùng với đó, đề xuất các giải pháp có tính đột phá và khả thi theo hướng: chính sách phải thực sự mở đường, dẫn dắt phát triển; bảo đảm tính ổn định nhưng linh hoạt, tạo niềm tin dài hạn cho các chủ thể trong nền kinh tế; gắn chặt giữa thể chế - nguồn lực - tổ chức thực hiện, trong đó con người và công nghệ là hai trụ cột then chốt.
Các diễn giả tham gia phiên tọa đàm cấp cao "Từ giải pháp đến hành đồng: Huy động nguồn lực và giải pháp nhằm tận dụng nguồn lực thúc đẩy tăng trưởng xanh" với sự điều phối của TS. Võ Trí Thành, Viện trưởng, Viện chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh
"Như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhiều lần nhấn mạnh: “Thể chế phải đi trước một bước, phải tạo không gian phát triển, biến tiềm năng thành nguồn lực, biến nguồn lực thành động lực.” Tinh thần đó cũng chính là kỳ vọng đặt ra đối với Diễn đàn hôm nay", Tổng Biên tập Phạm Thị Thanh Huyền nói.
Vì sao phải thúc đẩy tăng trưởng xanh?
Tại Diễn đàn, PGS.TS. Bùi Quang Tuấn, Phó chủ tịch Hội khoa học kinh tế Việt Nam, đặt vấn đề: vì sao phải thúc đẩy tăng trưởng xanh trong giai đoạn hiện nay?
PGS.TS. Bùi Quang Tuấn, Phó chủ tịch Hội khoa học kinh tế Việt Nam phát biểu tại Diễn đàn.
Theo ông, từ góc độ quốc gia, yêu cầu cấp thiết là đổi mới mô hình tăng trưởng, khi mô hình truyền thống đang bộc lộ rõ những giới hạn như phụ thuộc vào năng lượng hóa thạch, khai thác tài nguyên và lao động chi phí thấp.
Bên cạnh đó, bối cảnh thị trường quốc tế đang thay đổi nhanh chóng. Các nhà nhập khẩu không chỉ quan tâm đến giá và chất lượng sản phẩm mà ngày càng đặt ra yêu cầu cao hơn về tiêu chí bền vững, đặc biệt là các chỉ số liên quan đến phát thải carbon. Điều này buộc doanh nghiệp phải chủ động chuyển đổi xanh, nếu muốn duy trì và mở rộng thị trường.
PGS.TS. Bùi Quang Tuấn nhấn mạnh, tăng trưởng xanh thực chất là quá trình tái cấu trúc cách thức tạo ra giá trị của nền kinh tế, chuyển từ mô hình dựa vào khai thác tài nguyên sang dựa trên hiệu quả, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Theo ông, để xác lập mô hình tăng trưởng mới, cần phát triển đồng bộ 4 kênh tăng trưởng xanh gồm: đầu tư vào năng lượng và hạ tầng, nâng cấp công nghiệp, mở rộng tài chính xanh và tăng khả năng chống chịu của nền kinh tế. Điểm chung của các kênh này là đều phải đặt trên nền tảng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, qua đó tạo động lực nâng cao năng suất và chất lượng tăng trưởng.
PGS.TS. Bùi Quang Tuấn cho rằng, để thúc đẩy tăng trưởng xanh một cách thực chất, cần hình thành hệ sinh thái đồng bộ với sự tham gia của nhiều chủ thể, từ đó tạo ra thay đổi toàn diện.
Các đại biểu tham dự Diễn đàn
Trong đó, ở trụ cột Nhà nước - thể chế giữ vai trò then chốt, có nhiệm vụ thiết lập khuôn khổ để nền kinh tế vận hành theo hướng xanh hóa, đồng thời tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn xanh, đẩy mạnh đổi mới công nghệ và chuyển đổi số.
Ở trụ cột thị trường, cần phát huy vai trò phân bổ nguồn lực thông qua các công cụ như định giá carbon, qua đó bảo đảm các nguồn lực được sử dụng hiệu quả theo tín hiệu thị trường.
Doanh nghiệp, với vai trò là trụ cột thứ ba, được xác định là trung tâm của quá trình đổi mới, cần ưu tiên chuyển đổi trong các lĩnh vực then chốt như năng lượng, công nghiệp, logistics và nông nghiệp.
Cuối cùng, người dân và cộng đồng, thông qua việc hình thành lối sống xanh, sẽ tạo sức ép và động lực để doanh nghiệp đẩy nhanh quá trình xanh hóa hoạt động sản xuất, kinh doanh.
PGS.TS. Bùi Quang Tuấn tham gia phiên tọa đàm cấp cao tại Diễn đàn
Nhiều cơ chế ưu đãi, khuyến khích doanh nghiệp chuyển đổi xanh
Ông Nguyễn Trung Thắng, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, chính sách nông nghiệp và môi trường, (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, thời gian qua, Nhà nước đã ban hành nhiều cơ chế ưu đãi, khuyến khích doanh nghiệp chuyển đổi xanh, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.
Phó Viện trưởng Viện Chiến lược chính sách Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Trung Thắng phát biểu tại Diễn đàn
Cụ thể, các hoạt động bảo vệ môi trường được hỗ trợ toàn diện về đất đai, hạ tầng, vốn và thuế.
Chính sách cũng khuyến khích các tổ chức tín dụng ưu tiên tài trợ, cho vay với điều kiện ưu đãi đối với các dự án thuộc danh mục phân loại xanh. Những dự án này được tạo điều kiện tiếp cận nguồn vốn từ Chính phủ, các tổ chức quốc tế và đối tác phát triển, cùng với các chương trình đào tạo, tập huấn về tín dụng xanh.
Đáng chú ý, Nghị quyết 198/2025/QH15 của Quốc hội quy định doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh được hỗ trợ lãi suất 2%/năm khi vay vốn triển khai các dự án xanh, kinh tế tuần hoàn và áp dụng các tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị (ESG).
Trong lĩnh vực mua sắm công, các dự án đầu tư và nhiệm vụ sử dụng ngân sách nhà nước được ưu tiên sử dụng sản phẩm, dịch vụ đạt Nhãn sinh thái Việt Nam. Yêu cầu này được lồng ghép vào tiêu chí lựa chọn nhà thầu, đồng thời khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đẩy mạnh mua sắm xanh, góp phần mở rộng thị trường cho các sản phẩm thân thiện môi trường.
Các đại biểu tham dự Diễn đàn
Tuy nhiên, theo ông Thắng, quá trình triển khai các cơ chế, chính sách vẫn còn nhiều vướng mắc. Hệ thống văn bản hướng dẫn chưa đầy đủ, thiếu sự đồng bộ giữa các lĩnh vực như mua sắm công xanh, tín dụng xanh, trái phiếu xanh hay cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân.
Bên cạnh đó, thủ tục hành chính và điều kiện tiếp cận nguồn tài chính xanh vẫn còn phức tạp. Cơ sở dữ liệu và thông tin về các dự án xanh còn thiếu; năng lực xác nhận, giám sát và đánh giá dự án xanh còn hạn chế, tiềm ẩn rủi ro “giả xanh”.
Ngoài ra, nguồn lực tài chính hỗ trợ cho bảo vệ môi trường và các dự án xanh còn chưa đáp ứng yêu cầu. Ở phía doanh nghiệp, đặc biệt là khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa, năng lực hấp thụ còn yếu do thiếu nhân lực chuyên môn về ESG, MRV, hạn chế về quy mô vốn, năng lực quản trị cũng như hiểu biết về các tiêu chí phân loại xanh.
Về giải pháp thời gian tới, ông Nguyễn Trung Thắng đề xuất cần tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn về cơ chế, chính sách, trong đó sớm ban hành và hoàn thiện các văn bản hướng dẫn liên quan đến mua sắm công xanh, tín dụng xanh và các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân.
Cùng với đó, cần đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện tiếp cận các ưu đãi để doanh nghiệp dễ dàng tham gia vào quá trình chuyển đổi xanh. Việc xây dựng và hoàn thiện cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin về các dự án xanh cũng được xem là yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao tính minh bạch và khả năng kết nối nguồn lực.
Ông Thắng cũng nhấn mạnh cần tăng cường hợp tác quốc tế để huy động các nguồn lực tài chính xanh, đồng thời nâng cao năng lực cho các bên liên quan, bao gồm doanh nghiệp, tổ chức tín dụng và các đơn vị xác nhận, đánh giá dự án xanh.
Xu hướng việc làm xanh đang tăng nhanh
Chia sẻ tại Diễn đàn, TS. Vũ Văn Doanh, Phó trưởng khoa Môi trường, Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, cho biết, trong bối cảnh thúc đẩy tăng trưởng xanh và phát triển bền vững, việc phát triển nguồn nhân lực môi trường đang trở thành yêu cầu cấp thiết.
TS. Vũ Văn Doanh, Phó trưởng khoa Môi trường, Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, phát biểu tại Diễn đàn
Dẫn định nghĩa của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), ông cho rằng “việc làm xanh” là những công việc bền vững trong mọi lĩnh vực như nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ hay hành chính, góp phần bảo tồn, phục hồi và nâng cao chất lượng môi trường.
Theo dữ liệu của Ngân hàng Thế giới, hiện tỷ lệ việc làm xanh tại Việt Nam mới chiếm khoảng 3,6% tổng số việc làm trong 39 ngành nghề, nhưng dự báo có thể tăng lên 41% trong 88 ngành nghề trong tương lai.
Trong khi đó, thống kê của ManpowerGroup Việt Nam giai đoạn 2023 -2024 cho thấy xu hướng việc làm xanh đang tăng nhanh, tập trung nhiều nhất ở lĩnh vực sản xuất (33%). Nhu cầu tuyển dụng được thúc đẩy bởi các cam kết ESG và mục tiêu phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) vào năm 2050, với hơn 80% vị trí tập trung ở 4 nhóm ngành chính gồm sản xuất, chăm sóc sức khỏe - khoa học đời sống, năng lượng và công nghệ thông tin.
Tuy nhiên, theo ông Doanh, nguồn nhân lực hiện nay vẫn chưa đáp ứng yêu cầu. Hệ thống đào tạo còn thiếu giáo trình về phát triển bền vững; sinh viên ra trường dư về số lượng nhưng thiếu kỹ năng xanh. Đồng thời, tỷ lệ lao động được đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức còn thấp; nguồn nhân lực chưa bao phủ đầy đủ các lĩnh vực của kinh tế xanh.
Để khắc phục, ông đề xuất triển khai hiệu quả Quyết định 176/QĐ-TTg về Chương trình hỗ trợ phát triển thị trường lao động đến năm 2030 và định hướng tới 2050. Đồng thời, tiếp tục cụ thể hóa các chủ trương lớn của Đảng về phát triển nguồn nhân lực như các nghị quyết Trung ương liên quan đến đổi mới mô hình tăng trưởng và phát triển bền vững.
Một giải pháp quan trọng khác là gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo, nghiên cứu và nhu cầu doanh nghiệp thông qua cơ chế “đặt hàng” đào tạo, tăng cường hợp tác viện trường - doanh nghiệp và xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh, qua đó nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ quá trình chuyển đổi xanh.
Ông Doanh cũng nhấn mạnh rằng, cần nâng cao tỷ lệ cán bộ được đào tạo, bồi dưỡng và thường xuyên cập nhật kiến thức, kỹ năng xanh.
Cần giao chỉ tiêu cho ngân hàng để nâng tỷ trọng tín dụng xanh
TS. Nguyễn Trí Hiếu, Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Phát triển thị trường Tài chính và Bất động sản Toàn cầu, cho rằng, dù đã có bước tiến trong khoảng một thập kỷ qua, các công cụ như tín dụng xanh, trái phiếu xanh vẫn còn tương đối mới mẻ tại Việt Nam.
TS. Nguyễn Trí Hiếu, Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Phát triển thị trường Tài chính và Bất động sản Toàn cầu, phát biểu tại Diễn đàn
Theo ông, tài chính xanh là quá trình huy động và phân bổ nguồn vốn từ ngân hàng, thị trường vốn, quỹ đầu tư hay bảo hiểm vào các dự án có tác động tích cực đến môi trường và xã hội, hướng tới phát triển bền vững. Các lĩnh vực được tài trợ chủ yếu gồm năng lượng tái tạo (điện gió, điện mặt trời), xử lý chất thải, nông nghiệp bền vững và công trình tiết kiệm năng lượng. Hệ sinh thái tài chính xanh hiện bao gồm tín dụng xanh, trái phiếu xanh, đầu tư theo tiêu chuẩn ESG và các quỹ phát triển bền vững.
Trong đó, tín dụng xanh được đánh giá là kênh chủ lực. Dư nợ tín dụng xanh tại Việt Nam cuối năm 2025 đạt khoảng 780.000 - 850.000 tỷ đồng, chiếm khoảng 4,1% tổng dư nợ toàn nền kinh tế. Dù quy mô còn khiêm tốn, tốc độ tăng trưởng bình quân những năm gần đây đạt 20 - 25%/năm, cao hơn đáng kể so với tín dụng chung của hệ thống. Số lượng tổ chức tín dụng tham gia cũng tăng mạnh, từ 15 đơn vị năm 2017 lên 58 đơn vị vào cuối năm 2025.
Về cơ cấu, tín dụng xanh tập trung chủ yếu vào nông nghiệp (30 - 33%) và năng lượng tái tạo, năng lượng sạch (khoảng 40%), trong khi nhiều lĩnh vực như giao thông xanh, công trình xanh hay kinh tế tuần hoàn vẫn còn thiếu nguồn vốn. Đáng chú ý, tín dụng xanh đang mở rộng sang lĩnh vực tiêu dùng, như cho vay mua nhà xanh, điện mặt trời áp mái hay phương tiện giao thông thân thiện môi trường.
Tuy nhiên, theo ông Hiếu, tín dụng xanh đang đối mặt với không ít thách thức. Áp lực thanh khoản và quy định về tỷ lệ cho vay so với huy động khiến các ngân hàng phải thận trọng trong cấp tín dụng. Trong bối cảnh nhu cầu vốn của nền kinh tế tăng cao, lãi suất huy động có xu hướng nhích lên, kéo theo chi phí vốn tăng, khiến dư địa dành cho tín dụng xanh bị thu hẹp.
Bên cạnh đó, đặc thù của các dự án xanh là thời gian hoàn vốn dài, lợi nhuận không cao trong ngắn hạn, trong khi lại phải đáp ứng nhiều tiêu chuẩn mới như ESG hay các chuẩn mực quốc tế khắt khe, tạo thêm áp lực cho cả ngân hàng và doanh nghiệp.
Các đại biểu tham dự Diễn đàn
Từ thực tế này, ông Hiếu đề xuất Ngân hàng Nhà nước cần có định hướng mạnh mẽ hơn, trong đó có thể xem xét giao chỉ tiêu cụ thể để nâng tỷ trọng tín dụng xanh lên tối thiểu 5% trong tổng dư nợ của mỗi ngân hàng, thay vì hoàn toàn dựa vào tính tự nguyện.
Đối với trái phiếu xanh, quy mô hiện còn khá nhỏ, với tổng dư nợ khoảng 30.000 tỷ đồng (tương đương 1,2 tỷ USD), chiếm khoảng 2% thị trường trái phiếu. Dù đã có một số tổ chức phát hành như chính quyền địa phương hay doanh nghiệp lớn, số lượng vẫn hạn chế.
Theo ông Hiếu, nguyên nhân chủ yếu là do trái phiếu xanh thường có kỳ hạn dài (5 - 15 năm), rủi ro cao, trong khi các dự án xanh không tạo dòng tiền nhanh, khiến nhà đầu tư yêu cầu mức lãi suất cao. Ngoài ra, nhiều trái phiếu không có tài sản bảo đảm, mà phụ thuộc vào dòng tiền của dự án, càng làm gia tăng mức độ thận trọng của thị trường.
Ông nhận định, trong giai đoạn tới, trái phiếu xanh sẽ phù hợp hơn với các doanh nghiệp quy mô lớn, đặc biệt là doanh nghiệp có vốn nhà nước. Tuy vậy, nếu được hỗ trợ về chính sách và nâng cao nhận thức thị trường, cả tín dụng xanh và trái phiếu xanh vẫn còn nhiều dư địa phát triển trong thời gian tới.
Chuyển đổi số để tối ưu hiệu quả sử dụng năng lượng trong doanh nghiệp
Chia sẻ về chủ đề “Chuyển đổi số để tối ưu hiệu quả sử dụng năng lượng trong doanh nghiệp”, ông Lê Nguyễn Trường Giang, Viện trưởng Viện chiến lược Chuyển đổi số, cho rằng, chuyển đổi số không đơn thuần là ứng dụng công nghệ, mà là một cuộc cách mạng về tư duy phát triển, trong đó dữ liệu dần thay thế vốn tài chính truyền thống, trở thành nguồn lực cốt lõi của nền kinh tế.
Ông Lê Nguyễn Trường Giang, Viện trưởng Viện chiến lược Chuyển đổi số, phát biểu tại Diễn đàn
Từ góc độ doanh nghiệp, ông nhấn mạnh chuyển đổi số mở ra khả năng “nhìn thấy” và quản trị toàn diện hệ thống năng lượng thông qua dữ liệu. Khi năng lượng được đo lường, phân tích và lượng hóa đầy đủ, doanh nghiệp có thể xác định rõ các dạng năng lượng đang sử dụng, đặc trưng từng loại, cũng như vai trò của chúng trong toàn bộ chuỗi hoạt động.
Vấn đề không chỉ là tiết kiệm năng lượng, mà là tối ưu hóa cách sử dụng năng lượng dựa trên dữ liệu, ông nói, đồng thời cho rằng đây là nền tảng để doanh nghiệp ra quyết định chính xác hơn, từ vận hành đến đầu tư, từ đó nâng cao hiệu quả tổng thể.
Theo ông Giang, chuyển đổi số cũng làm thay đổi căn bản phương thức quản trị doanh nghiệp: từ quản trị công việc sang quản trị dòng thông tin, từ các chỉ số rời rạc sang đánh giá hiệu quả tổng thể, và từ lợi thế cạnh tranh tĩnh sang lợi thế cạnh tranh động dựa trên đổi mới sáng tạo liên tục.
Để tối ưu hiệu quả sử dụng năng lượng, ông cho rằng doanh nghiệp cần đặt dữ liệu làm nền tảng, vận hành dựa trên công nghệ và ra quyết định dựa trên phân tích dữ liệu.
Chỉ khi thay đổi tư duy, thay đổi cách vận hành và hình thành phương thức quản trị mới, doanh nghiệp mới có thể sử dụng năng lượng hiệu quả và tiến tới phát triển bền vững trong kỷ nguyên số, ông nhấn mạnh.
Tin: Hà Lan; Ảnh: Quang Khánh