Tết Bính Ngọ, năm cầm tinh con ngựa, từ các đô thị lớn của Việt Nam đến những thị trấn, làng xóm, hình ngựa bỗng dày lên trong trang trí Tết. Ngựa trở thành linh vật của mùa xuân năm nay, được đặt ở nhiều vị trí, từ công viên, đường hoa, tiểu cảnh trước trụ sở, sảnh trung tâm thương mại, cho tới những góc trang trí nhỏ trong quán xá. Mỗi linh vật một tạo dáng, một chất liệu, một cách “chúc Tết” bằng hình. Có con chọn vẻ vui tươi gần gũi, có con nhấn vào sự mạnh mẽ, có con ưu tiên nét duyên, có con lại mang tinh thần trang trọng. Đa hình, đa dạng, và tự thân mỗi hình ngựa đều có vẻ đẹp riêng, như cách người Việt vẫn gửi đi lời cát tường bằng biểu tượng.
Biểu tượng ngựa đón Tết Bính Ngọ 2026 ở đường đi bộ Nguyễn Huệ, TP.HCM - Ảnh: CTV
Từ lớp ngựa của không gian Tết, rất tự nhiên người ta nhớ đến một lớp ngựa khác, ngựa trong hội họa. Ở đó, con ngựa không chỉ là linh vật để ngắm mà trở thành ngôn ngữ biểu đạt, thước đo bút lực và khí lực. Và nếu nói về tranh ngựa, khó bỏ qua Từ Bi Hồng, họa sĩ Trung Quốc sinh năm 1895, mất năm 1953, được ghi nhận như một gương mặt quan trọng của mỹ thuật hiện đại Trung Hoa, đồng thời là nhà giáo dục nghệ thuật có ảnh hưởng lớn.
Bức Ngựa phi (Bôn mã - Galloping Horse) của Từ Bi Hồng vẽ năm 1941
Điều đáng chú ý là ảnh hưởng của tranh ngựa Từ Bi Hồng đã đi vào đời sống thị giác ở Việt Nam từ rất lâu, theo một con đường phổ biến và bền bỉ: tranh in, tranh chép, tranh vẽ lại, tranh phái sinh treo dịp Tết, tân gia, khai trương. Nhiều gia đình Việt quen mắt với những bố cục “ngựa phi” một con hoặc vài con, hay dạng “quần mã” bầy ngựa dồn về một hướng, tạo cảm giác hanh thông. Ở thị trường trang trí, những bố cục ấy thường được gọi bằng các tên quen thuộc như “bát mã”, “mã đáo”, “mã đáo thành công”, như một cách gắn hình tượng ngựa với lời chúc năm mới. Cần nói rõ, đó là tên gọi đời sống và cách “đặt tên theo lời chúc” của thị trường, không phải lúc nào cũng trùng khít với tên tác phẩm chính thức hay một bản gốc xác định. Nhưng chính sự phổ biến ấy cho thấy: với người Việt, nhắc tới tranh ngựa, ký ức thị giác rất dễ neo về Từ Bi Hồng.
Từ Bi Hồng, Song mã phi, 1941
Vậy tranh ngựa của ông có gì khiến người ta nhớ lâu đến vậy. Từ Bi Hồng không nổi tiếng vì “vẽ ngựa cho giống” theo nghĩa sao chép hình dáng. Ngựa của ông thuyết phục bằng cảm giác sống, trước khi thuyết phục bằng chi tiết. Người xem nhận ra cơ bắp dồn lực ở vai, nhịp đẩy ở hông, độ căng của cổ, sự thăng bằng của toàn thân trong khoảnh khắc chuyển động. Nhưng cái làm nên sức hút lại nằm ở thứ khó gọi tên, thần thái. Con ngựa trong tranh luôn như đang thở, đang nén, đang bung. Ở một mức nào đó, đó là thứ khiến tranh chép có thể giống hình, nhưng hiếm khi “trúng khí”.
Tam mã đồ (Ba tuấn mã) của Từ Bi Hồng
Nền tảng ấy không phải tự nhiên mà có. Các nguồn tư liệu về Từ Bi Hồng đều nhấn mạnh ông là nghệ sĩ tiên phong của mỹ thuật hiện đại Trung Quốc, theo đuổi hướng cải cách bằng cách tiếp thu kỹ thuật phương Tây nhưng vẫn đặt trên nền bút mực phương Đông. Nói cụ thể hơn, ông coi trọng cấu trúc hình thể, ánh sáng, cảm giác khối, nhưng không biến mình thành họa sĩ thuần hàn lâm. Trên nền giấy, ông vẫn để bút lực dẫn dắt, để nhịp điệu của thủy mặc tạo ra khí. Vì vậy, tranh ngựa của ông vừa có hình, vừa có lực, vừa có khoảng thở.
Một mô típ tiêu biểu thường được nhắc đến là những bức ngựa phi, trong đó có tác phẩm “Galloping Horse” năm 1941 hiện được giới thiệu gắn với Bảo tàng Từ Bi Hồng. Ở những bức kiểu này, con ngựa lao về phía trước như một mệnh lệnh. Chỉ vài mảng mực đậm nhạt, vài chỗ nhấn gân, vài đường bút đúng lực, tốc độ đã xuất hiện. Cảm giác chuyển động không đến từ việc “vẽ nhiều”, mà đến từ chỗ biết nén, biết bỏ, biết để khoảng trắng tham gia vào nhịp phi. Đây cũng là chỗ tranh ngựa Từ Bi Hồng dễ được nhận ra: nhìn vào đã thấy chuyển động, nhưng chuyển động ấy không phải hiệu ứng, nó là lực.
Từ Bi Hồng, Lục mã phi, mực và màu trên giấy
Không chỉ tranh độc mã, Từ Bi Hồng còn có những bố cục quần mã, bầy ngựa, nơi sức mạnh không nằm ở một cú phi đơn lẻ mà nằm ở trường lực của cả đàn. Một ví dụ được giới thiệu trong tư liệu về ông là “Group of Horses” năm 1940. Dạng bầy ngựa này rất gần với ký ức thị giác phổ biến ở Việt Nam, vì nó tạo cảm giác sung túc, đông vui, cùng hướng, hợp với tâm thế Tết. Khi bầy ngựa dồn về một hướng, người ta dễ liên tưởng tới chữ hanh thông. Nhưng điểm đáng giá ở Từ Bi Hồng là, dù bầy hay đơn, ông vẫn giữ được “kỷ luật của lực” để tranh không rối, không loãng, không sa vào minh họa.
Từ Bi Hồng, Quần mã, mực và màu trên giấy
Từ câu chuyện của Từ Bi Hồng, có thể nhìn rõ một phân biệt quan trọng, thứ mà không ít mô phỏng hiện đại hay vấp phải. Mô phỏng có thể cho ra “hình ngựa” rất nhanh, rất đẹp, rất trơn tru, nhưng “trơn tru” đôi khi lại là dấu hiệu của sự thiếu điểm căng. Hội họa, nhất là thủy mặc, cần điểm căng để tạo sinh khí. Ngựa Từ Bi Hồng thường có những chỗ gằn, những chỗ lướt, những khoảng dừng nửa nhịp, khiến người xem cảm thấy nội lực đang chuyển bên trong. Vì vậy, ngay cả khi công nghệ và AI có thể tạo ra vô số biến thể ngựa, điều khó bắt chước nhất vẫn là khí lực của một nét bút biết dẫn lực.
Đi xa hơn, tranh ngựa của Từ Bi Hồng còn gợi một chuyện khác, chuyện của thị hiếu và ký ức. Ở Việt Nam, tranh ngựa treo Tết thường đi kèm tâm lý cầu khởi sắc. Nhiều người không cần nhớ tên bức tranh, không cần phân biệt bản gốc bản in, chỉ cần một hình tượng “ngựa đang chạy” là đã thấy tinh thần năm mới được kích hoạt. Chính ở điểm này, Từ Bi Hồng trở thành cái tên “trú ngụ” của ký ức thị giác. Tên ông được nhắc như một bảo chứng cho cảm giác kinh điển, cho một chuẩn mực đã được cộng đồng hóa. Đó cũng là một kiểu ảnh hưởng đặc biệt: ảnh hưởng không chỉ trong giới mỹ thuật, mà trong đời sống nhìn ngắm hằng ngày.
Trở lại với Tết Bính Ngọ 2026. Linh vật ngựa năm nay, ở rất nhiều phiên bản, đang làm một nhiệm vụ rất rõ, đem tinh thần vui tươi và lời chúc khởi hành vào không gian công cộng. Đó là vẻ đẹp của hiện tại. Còn khi muốn tìm một chuẩn mực kinh điển cho “ngựa trong tranh”, thứ cho thấy con ngựa có thể trở thành biểu tượng của ý chí và khí phách bằng bút lực, Từ Bi Hồng vẫn là một điểm tựa khó thay thế.
Tết Bính Ngọ vì thế có thêm một lớp nghĩa. Ngựa không chỉ đứng ở quảng trường hay trong tiểu cảnh đường hoa, mà còn đứng trong ký ức thị giác của nhiều người Việt, qua những bức tranh đã trở nên quen thuộc, được xem, được in, được chép, được biến tấu theo vô số cách. Và ở tầng sâu của biểu tượng, ngựa của Từ Bi Hồng nhắc một điều giản dị: năm mới là năm của chuyển động, của dồn lực, của bước tới phía trước.
Tiểu Vũ